Quạt vôi cho ngoại ăn trầu

Từ nhỏ, tôi vẫn nghe mẹ tôi đọc câu ca: “Không trầu ăn bậy lá gun/ Không vôi thì cứ phải đùn xuống khe” mà cứ lan man chẳng biết tại sao. Mười mấy năm xa quê vì chiến tranh bom đạn mẹ tôi vẫn hay kể cho anh em chúng tôi nghe những câu chuyện về mưa nắng quê nhà. Ở lứa tuổi lên chín, lên mười ngày ấy nghe cứ như là những câu chuyện cổ tích với những địa danh Sơn Tây, Mỹ Thạnh, Nhà Điều, Nhà Bương, rừng Cấm, Hóc Môn. Rồi chuyện ông ngoại tôi đi săn trên đồi Mù Trụ, đồi Cò Quánh. Bà ngoại mặc áo dài thô đi cấy lúa trên cánh đồng Cơ Khát, đi câu cá Trèn bên bờ khe Bà Giòng trong những ngày mưa đổ, ngửa nón hái sim, hái Chòi Mòi trên đồi Ông Hút…Ôi chao, những câu chuyện đời người giản đơn, nhọc nhằn mà sao cứ như mới sau mỗi bữa cơm chiều là cứ thích được mẹ kể hoài.

Rồi cả gia đình tôi cũng được về lại khung trời kỷ niệm của mẹ và thế giới mơ mộng của tuổi thơ tôi sau ngày thống nhất đất nước. Một vùng quê lạ lẫm, hấp dẫn với tôi ngay từ những ngày đầu giáp mặt. Những sông suối, núi đồi tha hồ cho chúng tôi vùng vẫy. Buổi sáng vang um tiếng chim bên nhà. Buổi chiều nhìn thấy mặt trời vàng rụm từ từ xuống núi. Biết được sương sớm, sương chiều cả những mùa gió Nam thổi rốc. Tôi thật sự phỉ chí tang bồng đâu biết những vui buồn lo âu đói nghèo của người lớn.

Như bao làng quê khác sau chiến tranh, làng Mỹ Thạnh quê tôi nghèo lắm. Ruộng hóc đồng vênh xung quanh là núi đồi bao bọc. Mọi phương tiện thông thương bên ngoài còn hạn chế. Ngày ấy toàn đi bộ, bàn chân non trẻ lẩm chẩm của tôi còn in dấu trên con đường nắng bụi mưa bùn suốt trong những năm tháng đi học ở quê nhà. Nhưng cái đói cái nghèo với bà con làng tôi như thể là mặc định bao đời nên tôi thấy họ chẳng có gì bận tâm về điều đó. Họ vẫn cày cấy bình thường trên cánh đồng làng rồi chờ đợi và cầu mong mưa thuận gió hòa. Vẫn giắt liềm lên phên là thiếu ăn, là chạy vạy. Vẫn vui, vẫn lễ hội Thành hoàng tháng Giêng, vẫn chạp mả tháng Chạp rộn ràng… miết như vậy, thành quen.

Dĩ nhiên, cuộc sống là phải đối phó với muôn vàn khó khăn và dường như là sự sáng tạo ấy để sinh tồn. Làm sao để thắp đèn dầu phụng được lâu khi không có dầu hỏa? Làm sao đẽo guốc gỗ cho đẹp, vá áo quần cho nhã, bẫy ốc bưu cho nhiều… Trong cái khó đã ló cái khôn để vá víu cho những khó khăn ngặt nghèo của đời sống lúc bấy giờ. Trong tôi vẫn còn y nguyên những đêm quạt vôi cho ngoại ăn trầu thời ấy.

Để có vôi ăn trầu khi xưa bà con làng tôi phải cực nhọc trăm bề về chợ búa, đường xa. Bài ca “Bồng em mà bỏ vô nôi” là một ví dụ điển hình đặc trưng như thể sinh ra ở làng quê và nói cho người dân quê tôi khi phải đi chợ Quán, chợ Cầu để mua cau, mua trầu. Và muốn ăn trầu phải tự làm vôi ra chớ đường xá xa xôi quá làm sao chợ búa thường xuyên được. Những con ốc đá to được bắt từ khe Nhà Huyền, khe Bà Tải, Sông Trầu… ngoài việc dùng làm thức ăn hàng ngày, vỏ ốc được để dành phơi khô quạt vôi. Khi hom hom đã đầy đủ số lượng vỏ ốc là bà ngoại tôi chọn đêm để quạt. Vật liệu chính để dùng quạt vôi trước tiên là vỏ ốc phơi, củi tre khô, một miếng tôn độ một mét vuông và một cái quạt nan tre thường dùng để quạt lúa. Tại sao phải dùng củi tre? Vì củi tre khô không có than, dễ dọn, tàn tro trắng nhẹ dễ bay khi quạt. Vỏ ốc được xếp gọn gàng cùng củi làm sao khi củi tàn ốc không đổ, dựng thành từng lớp. Khi đốt lửa chảy khoảng mười phút là phải quạt, quạt liên tục, vừa quạt vừa đun thêm củi vô. Ngọn lửa được quạt táp mạnh vào vỏ ốc làm vỏ ốc chuyển màu nhanh chóng từ màu đen sang màu đỏ rồi trắng vôi dần. Quạt liên tục cho những tàn tro củi tre bay đi chỉ còn lại than ốc. Lúc này trên nền tôn chỉ còn một đống vôi chín còn nguyên trạng hình ốc. Để nguội một lúc, cho tất cả vào cối giã mịn, đem rây ra là ta đã có bột vôi ăn trầu nguyên chất, rất thơm và mặn mà. Các bà, các mẹ làng tôi vẫn chia nhau chút vôi bột từ các hũ để dành cứ như một nét tình làng nghĩa xóm thảo thơm.

Chuyện ăn trầu của ngoại tôi và các bà cũng nhiêu khê lắm nỗi. Không dễ để đi chợ nên chuyện hụt cau, hụt trầu là chuyện thường tình. Bởi vậy, phải tìm ra cách để thay thế mà không ảnh hưởng đến chất lượng của vôi và để thỏa mãn cơn ghiền. Ngoại tôi và các bà trong làng vẫn dùng lá gun – một loại lá rừng có thân leo – làm lá thay thế. Lá gun non được hái về từng xấp đem hấp vào nồi cơm cạn cho mềm là tem được. Lá có vị chát đậm, thơm. Còn cau nếu thiếu thì đã có vỏ cây chay, vỏ cây mang về lột ra đập dập cắt ra từng đoạn nhỏ vừa ăn. Tất cả cho vào cối trầu rồi ngoáy cho mềm, có màu đỏ là đưa cho ngoại. Cứ nhìn thấy cái miệng móm mém của ngoại nhai trầu đỏ tươi thấy thanh bình làm sao và cứ thích mình còn bé dại mãi.

Bây giờ thì ngoại tôi đã nghìn năm mây trắng. Không còn đò giang cách trở, phố chợ gần kề, trầu tem cau bửa sẵn sàng bày bán gọi mời. Mỗi lần về thăm làng tôi vẫn còn nhớ như in những đêm quạt vôi cho ngoại. Những ánh lửa hồng ấm nồng trong đêm vẫn mãi bập bềnh trôi trong ký ức xa xôi. Tự nhiên con thèm được trở lại dù chỉ một ngày, ngoại ơi.

Đ.N