Nhớ mùa đậu phụng ra gương

Ở quê tôi mùa tháng Chạp, tháng Giêng là mùa đậu phộng ra hoa, người dân còn gọi là ra gương. Đám đậu được lên thành luống, bốn hàng một luống, mục đích để dễ dàng vô phân chăm sóc. Mỗi năm vào khoảng tháng mười một, những cơn mưa nặng hạt kéo dài lê thê thưa dần rồi tạnh hẳn, mặt trời mọc lên mang theo ánh nắng rực rỡ, cây cối chuyển mình trút bỏ xiêm y úa vàng, chúng thi nhau đâm chồi, nảy lộc, một màu xanh miên man tràn đầy sức sống. Bọn trẻ con ngồi trên lưng trâu tròn mắt ngạc nhiên, thích thú pha lẫn vui mừng. Ồ mùa xuân đã về, mùa Tết đến, mùa trẻ nít tung tăng, xúng xính quần áo thơm mùi vải mới, lũ chúng nó vui vẻ nhận những phong bì lì xì đỏ hồng, hồi hộp len lén nhìn bên trong xem những đồng tiền mới toanh sột soạt. Nhưng bây giờ hãy còn xa lắm, đến bảy, tám cái chủ nhật nữa, cứ hãy vui đùa cùng những con trâu mập ù và những anh chị nghé con xí xọn. Đàn chim én không cần bay lượn, chúng đậu thành hàng trên đường dây điện cao thế báo hiệu mùa xuân về.

 

Tôi theo chân mẹ và chị gái lên vườn bác Hai Thảo làm cỏ, vô phân chân đậu để mùa tháng ba tới thu hoạch ép dầu, điều tôi quan tâm hơn vẫn là những bánh kẹo đậu đầu mùa mẹ làm, vị ngọt thơm của đường, vị giòn tan béo ngậy của đậu tan dần trong miệng thấm xuống tận dạ dày, đó là món ngon của những ngày thơ ấu… Nắng ban mai trải lên những đám đậu trong ngôi vườn bác Hai Thảo một màu vàng hanh, giọt sương đêm còn sót lại trên cành long lanh trong nắng sớm, chùm hoa đậu vàng tươi lấp ló sau những chiếc lá bé nhỏ rung rinh, hoa đậu nở rộ trông cứ như tấm thảm vàng, nổi lên trên thảm vàng ấy là màu xanh của lá, màu long lanh của giọt sương, màu hanh vàng của nắng, thảo nào các cụ bảo là ra gương thay vì ra hoa.

Không biết hai chữ “ra gương” được các cụ nhả ngọc phun châu tạo nên tự bao giờ, chỉ biết tuổi thơ tôi đã có nó, nghe rất chân thực mà sang trọng làm sao. Thuở bi bô tôi cứ thắc mắc mãi, không hiểu tại sao không gọi củ đậu mà là trái đậu, có lần tôi hỏi ba tôi, ông mỉm cười bảo “các cụ đặt răng thì cứ kêu rứa, đừng có kêu củ đậu nghe chướng tai lắm”. Tôi lại hỏi: “Trái thì phải ở trên cành, đằng này nó ở dưới đất mà ba”? Ba tôi lại bảo: “Nhưng nó kết quả từ hoa đậu đó con, chớ không giống như củ sắn, củ khoai, thôi ngủ đi rồi khi lớn lên con sẽ biết”. Đến bây chừ tôi mới ngộ ra rằng các cụ gọi trái đậu là đúng bản chất của nó mà tinh tế hơn là gọi củ đậu, bởi vùng quê Quảng Nam vốn hay nói lái. Một lần nữa tôi kính phục các cụ quá sá, quả thật câu “hậu sinh khả úy” không thể xảy ra với tôi.

Cây đậu vốn gắn liền với đời sống của người dân quê, bởi nó mang lại nhiều lợi ích kinh tế, từ thân cây đậu, vỏ đậu, nhân đậu mọi cái đều đóng góp phần quan trọng trong đời sống con người. Thân đậu sau khi hái trái sạch sẽ, đem ủ làm phân bón ruộng rất tốt lại làm xốp đất nhẹ trâu cày, loại này giàu đạm, ni-tơ nuôi đất mùa sau thêm màu mỡ. Mới hay triết lý tự nhiên dung dị mà thâm hậu, đã vay thì trả, ăn quả trả ngàn vàng là vậy. Nhân đậu ép lấy dầu dùng trong các bữa ăn vừa ngon, thơm, có lợi cho sức khỏe con người. Từ thuở chưa có sự can thiệp của khoa học công nghệ, chai dầu phụng là chút quà thơm thảo mỗi mùa Tết nhứt giỗ chạp đem biếu bà con, họ hàng. Chỉ mới nhìn sắc màu vàng hổ phách lóng lánh đã nghe lừng lựng mùi thơm quyến rũ của nó. Phần bã còn lại đem trộn với cơm cho vào hũ sành đặt nơi bàn bếp độ năm mười ngày loại nguyên liệu hỗn hợp này cho ra màu nâu sẫm sềnh sệch nước ăn với cơm trắng rất ngon hoàn toàn không có tính độc hại, đây cũng là món ăn đặc trưng của người Quảng. Hay tương bánh dầu mẹ kho với cá rô đồng vào mùa lúa khoe màu ăn thì không gì ngon bằng nữa.

Quy trình làm cỏ đậu từ khi trồng đến thu hoạch có hai lần thôi. Gọi là cuốc chưng đậu. Lần một vào cuối tháng mười một sang tháng chạp khi thời tiết ấm lên cũng là lúc cỏ dại tranh đua nhau xanh đất, người dân quê tôi dùng cuốc nhỏ lưỡi xới chân đậu loại bỏ cỏ dại. Lần hai vào sau Tết âm lịch khi ba ngày Tết bảy ngày xuân qua đi người dân quê tôi bắt tay vào cuốc chưng đậu lần hai, khi hơi hướng Tết nhất hãy còn mới rợi. Làm cỏ đậu lần này có cái thú của sự no đủ ngày xuân, thường giữa buổi làm, bà con rủ nhau nghỉ tay, ăn lót bụng rồi mới làm tiếp, gọi là ăn nửa buổi. Nửa buổi làm cỏ đậu thường là bánh tét, bánh tổ để phần từ hôm tết. Vị bánh tổ ngọt, mùi bánh tét thơm là những hương vị ngày thơ dại còn theo tôi mãi đến bây giờ. Lúc này đậu ra gương lấp lánh ánh vàng sau cành lá rung rinh trong gió xuân hây hây trông rất đẹp mắt. Ai đã từng đôi lần đến quê tôi vào tháng giêng, tận mắt chứng kiến người dân vốn chịu thương, chịu khó sẽ bỏ ngoài tai câu nói của người xưa: “tháng giêng là tháng ăn chơi”. Họ  phơi mình trên những luống đậu xanh um lá, rực rỡ hoa vàng hứa hẹn mùa bội thu hẳn bạn sẽ yêu mến ngay sự thân thiện, hay lam hay làm của người dân quê xứ. Bạn sẽ yêu lăm lắm những mảnh vườn vàng hoa đậu, thương nụ mầm tươi xanh khiến ta cảm nhận sức sống mãnh liệt của đất trời. Tôi đã đi qua bao miền quê suốt chiều dài đất nước nhưng cứ mỗi độ Tết đến, xuân về lại nhớ đến da diết quê nhà mùa hoa đậu ra gương vàng lấp lánh. Thế mới hay rằng dẫu có chân trời góc bể xa xôi, quê mẹ vẫn luôn hiện hữu trong tâm hồn của những đứa con xa quê, chỉ có nơi chốn chôn nhau cắt rốn mới giàu tính vị tha yêu thương dẫu có đói nghèo.

Bây giờ tuổi đã về chiều, lang thang nơi đất trời phương Nam, nắng đầu xuân nhuộm vàng tháp chuông nhà thờ giáo xứ Phú Trung đã đánh thức trong tôi mùa xưa, mùa những luống đậu trên vườn bác Hai Thảo ra gương. Nghe sao mà thương yêu lắm mùa vàng son yêu dấu một thời!.

                                                 T.Y.N