Mùa tỏ giác

Quê tôi có cây tỏ giác, họ hàng với nhà chùm kết. Nhưng thân to hơn, lá xanh hơn, trái to hơn, gai dài hơn, đến mùa ra hoa cũng nhiều hơn, điều chắc chắn trái cũng nhiều hơn.

Họ hàng “nhà” cây tỏ giác thích định cư ven bờ sông nên không tranh thủ được tình yêu của các bà các cô bằng chùm kết, vì chùm kết thường mọc trong vườn nhà, ít khi thấy mọc hoang. Nên tuy rằng cũng gội đầu như nhau, sạch gàu như nhau, thậm chí còn mượt tóc hơn, thơm tho hơn, thế nhưng các bà các cô chỉ ưu ái dùng chùm kết, thế nên từ xưa tới giờ các văn nhân có bao giờ viết về mái tóc em lại thơm mùi tỏ giác đâu nào. Mới hay nhất thân nhì thế, nhất cự ly nhì cường độ là vậy. Thật tội nghiệp cho loại cây tỏ giác, riêng tôi rất yêu thương cái tội nghiệp này, bởi vì tôi sống đường hoàng thời gian cũng từ anh tỏ giác tội nghiệp. Mùa xuân, hai bên bờ sông Trầu quê tôi, đoạn giáp Tân An chuẩn bị đổ ra sông Tranh góp phần làm nên cái tên Thu Bồn trong lịch sử thơ ca xứ Quảng, từ xa nhìn thấy tán cây sum suê, lốm đốm hoa trắng trên nền lá xanh rì là đích thị cây tỏ giác rồi. Cái thời đói nghèo, con người ta trở nên thông minh cần mẫn, từ sáng tới chiều đạp xe gù lưng, đi dọc hai bên bờ sông Trầu xem ở đoạn nào có cây tỏ giác, lân la tìm tới nhà chủ, kể chuyện con dăng con dấm, cuối cùng mới dám đụng tới tỏ giác thì may ra mới có cơ may. Tại sao phải “ta chạy vòng vòng ta chạy vòng quanh”, đến khi cạn lời rồi mới thưa thật rằng con đi mua tỏ giác ư?

Nhớ xưa thuở đói nghèo thì ai mua bán chi ba thứ toàn gai với góc như cây tỏ giác. Nhìn gai tỏ giác là mình mẩy nổi gai, quanh thân phần gốc gai tua tủa như lông nhím, gai mọc thành chùm đan nhau khít rịt, mỗi cây gai dài độ mười mấy phân, gai tỏ giác mà đâm phải thịt da thì cứ gọi là tới số, nhứt nhối suốt đêm, miệng rên ư ử, mắt mở thao láo. Gai tạo nên bức tường bất khả xâm phạm bảo vệ cây.

Trong cái khó ló cái khôn, thời điểm cái ăn cái mặc đã khó, nhưng phải có cái giặt giũ nữa chớ. Và cái lý này lại là phương tiện đổ gạo vào nồi cơm nhà tôi. Thời ấy trước sự cấm vận bên ngoài nên mọi cái phải nội địa hóa. Các cơ sở sản xuất bột giặt ở miền Nam mày mò tìm ra trái tỏ giác làm nguyên liệu sản xuất bột giặt với xà phòng. Hiệu thuốc bắc bà Hoàng ở chợ Việt An là cơ sở thu mua, cái gì mới mẻ cũng dễ dàng hanh thông, thế là sáng ra tôi cưỡi “xế điếc” là xe đạp bon bon tới chiều cũng kiếm được kha khá tiền.

Tôi nhớ một thời, sau đó tôi đi buôn tỏ giác bằng xế nổ mà cười muốn tàn phế xương quai hàm. Chuyện là thằng Thịnh bạn tôi moi móc ở đâu ra chiếc xe Gô-bênh sản xuất đâu từ thời đại đế Na-pô-lê-ông còn ở truồng tắm mưa, nó bảo cho nó buôn chung nó cho đi buôn bằng xế hộp, tôi vui vẻ gật đầu, lòng hồi hộp như lần đầu hẹn gặp người yêu. Sáng hôm khởi đầu cái sự nghiệp “doanh nhân” ấy, thằng Thịnh oai vệ cưỡi cái xe ngựa trời có hai cái bi-đan dùng làm bàn đạp khi xe hết xăng. Tại chợ Việt An đổ đầy bình, chạy tới tấm bia Hột Xoài con ngựa khịt khịt rồi im lặng, kiểm tra mới biết hết xăng, vị chi mỗi lít xăng đi được một cây số. Thằng Thịnh lằm bằm: Xe chi hay quá, chạy không nổi mà “uống xăng” còn hơn máy bay phản lực. Tôi tức cười hỏi nó: Rứa mi lái máy bay hồi mô. Nó trả lời gọn ơ: Ừ, ngủ thấy hồi hôm.

Tiếp tục cho con ngựa phình bụng, chạy tới hồ An Tây, thằng Thịnh thấy có đám cấy bên đường toàn chị em, nó dừng lại hút thuốc lấy le. Có một cô gái trong đám cấy tròn mắt nhìn con ngựa trời của thằng Thịnh rồi nói: Chô, mấy anh buôn tỏ giác nhanh giàu gớm, mới đó mà đã mua được đề-rim. Thế là tôi và thằng Thịnh ngả ngửa ra cười muốn rớt tim xuống ruộng.

Ở thôn Ba Quế Thọ chỗ bờ sông Trầu có vườn tỏ giác trái chín đen thui dày đặc như có ai kì công đem dầu hắc quét lên ngọn cây. Đó là vườn nhà chú Năm Hòe hốt thuốc Nam, đã có vài vị “doanh nhân” con vào thăm dò rồi nhưng chú Năm Hòe bảo “buôn bán chi ba thứ ni được mấy đồng lắm, thôi để rớt xuống bà con lượm về gội đầu” nên mới còn nguyên vẹn, nhìn tựa tranh sơn dầu của cụ Bùi Xuân Phái. Hôm ấy vớ phải cái xe “máy bay” của nợ của thằng Thịnh, nên tôi đành vắt óc tìm kế đắc nhân tâm để gặp chú Năm Hòe. Tôi lấy hết can đảm để vào nhà chú với ý định thuyết phục để chú đồng ý cái vườn tỏ giác. Vào đến sân thấy chú ngồi vót nan tre dưới tán cây bòng sum suê trĩu quả, bóng cây bòng choáng hết nửa sân gạch rong rêu, trên cây bòng có cái lồng mồi, bên trong con cu đất đang hứng chí gáy cúc cù cu. Nhìn vào nhà có cây guitar treo trên vách. Tôi nghĩ bụng: Có cách rồi. Nghe động chú ngước lên nhìn, gật đầu, rồi lại cắm cúi vót.  Tôi bắt đầu con dăng con dấm: Con cu gáy hay quá chú hì? Chú ngừng tay nhìn tôi với ánh mắt thiện cảm và nói: Ừ nó hay nhất vùng đó con! Giọng của chú như tố giác bụng dạ chú đang rân rân sướng vì gặp phải người đồng thanh tương khí.

Tôi lân la: Con rất thích chim, nhất là chim mồi. Nhưng con không có điều kiện, hơn nữa cũng không biết khúc thức nó như thế nào? Thế là chú đứng lên bảo tôi vào nhà uống nước nói chuyện. Khi cô con gái xinh xinh của chú đã đặt lên bàn độc gỗ mun đen nhánh hai bát nước chè giáng nâu đen, sóng sánh. Chú bắt đầu giải thích cu gáy gọi bạn ra sao, cu thúc, cu gù thể nào để đối thủ nhảy lồng cho sập. Chú nói tới đâu thì cái đầu tôi như đầu con bữa củi tới đó.

Nhìn giá thuốc Nam chú để vô số thẩu nhựa to nhỏ, trên mỗi thẩu có dán giấy đỏ viết chữ Tàu màu mực đen. Tôi hỏi chú về nghề thuốc. Chú sáng mắt bắt đầu từ vùng đất Hải Dương sanh thần dược, từ thiền sư Tuệ Tĩnh thời nhà Trần cả đời nghiên cứu giúp dân trị bịnh, kỳ công viết nên quyển sách “Nam dược thần hiệu” rồi long đong thân triều cống nhà Minh cuối đời gửi nắm xương tàn nơi đất khách. Đến Hải Thượng Lãn Ông danh y Việt Nam thế kỷ thứ mười tám.

Nhìn cây đàn trên vách tôi hỏi: Chắc thời trai trẻ, chị em phụ nữ mê chú như điếu đổ chỉ vì ngón đàn chú hỉ? Tới đây chú bảo: Cái món đàn địch phải có “đế” mới xong con nghe. Để chú bảo con gái chú ra quán làm lít về đây ta nhâm nhi nói tiếp. Cô con gái chạy u ra quán mua lít rượu trắng đựng trong bình tông nhựa loại của lính Mỹ ngày xưa. Mang về vào bếp chiên hai cái trứng vịt đặt lên mâm gỗ đen nhánh có bốn chân chạm hình đầu con sư tử rồi rải chiếu dưới cây bòng để cái mâm gỗ lên trên thật trịnh trọng. Chú Năm Hòe với tay cầm cây đàn guitar bước ra sân, trông chú như trẻ lại, tôi rót đầy hai ly rượu mời chú. Chú uống cạn ly rượu, mắt chú thoạt buồn. Chú cất giọng trầm trầm: “Chiều chưa đi màn đêm buông xuống…”. Tôi như thấy lại quang cảnh chiều ba mươi Tết năm xưa nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương thất thểu lê bước phố Hàng Buồm. Rồi “Thiên thai” (Văn Cao), “Con thuyền không bến” (Đặng Thế Phong)…, giọng chú lên bổng xuống trầm thật lay động lòng người. Kết thúc bằng ca khúc “Cô hái mơ” của Hoàng Giác. Tôi xin phép ra về, lúc ấy chú mới hỏi: Chớ con đi mô trên ni. Tôi thưa thiệt là đi mua tỏ giác mà không được. Chú à một tiếng rồi nói: Con có thấy vườn tỏ giác dưới bờ sông không. Của nhà chú, chú cho con đó. Tôi cảm ơn rối rít, ra tới bờ sông thì thấy thằng Thịnh ngủ gà ngủ gật bên con ngựa trời, y hệt thằng bé âm thầm. Tôi đánh thức nó dậy thông báo tin vui, nó tròn mắt: Răng tài rứa he. Tôi đáp lại: Khổng Minh phải rứa chớ. Thằng Thịnh trề môi nói: Minh bà linh xinh xinh. Hôm ấy hai anh em thu hoạch bộn bề.

Vậy đó, xứ Quảng quê tôi các mẹ các bà thường dạy con cháu câu “Học ăn, học nói, học gói, học đùm”, tôi không hiểu ẩn ý mô tê ra răng, nhưng riêng cái chuyện biết “ăn”, biết “nói” thì mới có “gói” có “đùm” mang về thì đã rất tỏ tường. Tôi còn nghiệm ra cái cách “ăn cục nói hòn” là cách của nhà nông, “ăn sóng nói gió” là cách của người dân vùng biển, còn đã đi buôn tỏ giác thì phải biết “ăn nhẹ nói khẽ”!

Rồi đã lâu, qua thời bao cấp, kinh tế thị trường mở cửa, những “doanh nhân” bé con đã quen với buôn trầu, buôn cau, buôn tỏ giác, buôn phế liệu… chuyển sang làm doanh nhân thứ thiệt với cửa hàng phân bón, vật liệu xây dựng, nhà máy cán tôn, xà-gồ… Không biết mấy ông chủ chừ có ai nào thi thoảng nhớ mùa tỏ giác ngày xưa?

Riêng tôi, lạc loài vào mấy khu công nghiệp, mỗi khi nghe đâu đó mái tóc các cô thoang thoảng mùi xà-phòng co-may, mùi sữa tắm, lòng lại nao nao nhớ cây tỏ giác quê nhà. Dọc bờ sông trắng nắng chang chang ấy bây giờ màu chín đen bóng của loài tỏ giác có còn? Hay cái cây cứu tinh một thời chừ trở thành phế phẩm, tiệt nòi trốc gốc cả rồi?

Thỉnh thoảng đêm đêm, giấc mơ tôi hiện lên hình ảnh vườn trầu bà Hai xanh mướt, hàng cau nhà ông Lang cao vút lúc nhúc trái xanh, và bao giờ cũng thế, là bờ cây tỏ giác nhà chú Năm Hòe…

T.Y.N