Làng Hóa Quê và Lễ Mục đồng cầu bông

Từ thuở xa xưa, phía Tây xã Quế Thọ, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam ngày nay, có một vùng đất hoang sơ, cây cối còn rậm rạp và dường như chưa có bóng người. Vào một ngày trời quang mây tạnh, có một người tên gọi là Nguyễn Văn Vạn đưa một đoàn người từ quê hương Thanh Hóa vào đây khai cơ lập nghiệp. Họ cùng nhau chung tay góp sức dựng nên những túp lều tranh tre nứa lá, khai khẩn ruộng nương, chăn nuôi gia súc, tạo dựng xóm làng. Mặc dù rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để đến với một miền đất xa lạ, tạo dựng nên một làng quê mới, nhưng họ luôn nhớ về nơi quê cha đất tổ, cho nên gọi tên làng là Hóa Quê. Cuộc sống người dân làng Hóa Quê dần về sau sung túc hơn, có của ăn của để. Họ gắn kết cùng nhau trong tình làng nghĩa xóm. Tiếng lành đồn xa, thời gian sau, ông Trần Viết Thuấn đưa một đoàn người nữa cũng từ Thanh Hóa vào cùng sinh sống, góp phần làm cho làng Hóa Quê ngày thêm lớn mạnh, với nhiều gia tộc quần tụ bên nhau. Về sau, hai vị này được vua sắc phong là bậc tiền hiền và hậu hiền có công góp phần khai phá vùng đất mới.

Đình làng Hóa Quê

Sau khi rước sắc phong về làng, dân làng đã chọn cử người được tin cẩn có bổn phận cất giữ sắc phong và được gọi là người thủ sắc. Từ đó, cứ đến ngày 15 tháng 8 âm lịch hằng năm dân làng lại tổ chức lễ hội Kỳ Yên bên cạnh một gốc cây xoài cổ thụ để tôn vinh hai vị tiền hiền và hậu hiền có công khai cơ lập nghiệp. Vào ngày tế lễ, dân làng ai nấy cũng đều ăn mặc chỉnh tề, các vị có chức sắc ở làng, các vị bô lão thì khăn đóng áo dài. Cả một đoàn người với cờ xí, trống chiêng nhộn nhịp tập họp tại gốc cây xoài của làng, từ từ tiến về tư gia của người thủ sắc để rước sắc phong về tại cạnh gốc cây xoài làm lễ tế. Kết thúc buổi tế lễ họ lại mang sắc phong trở về nhà người thủ sắc để cất giữ. Nghi lễ khá long trọng, có ý nghĩa giáo dục cho lớp trẻ về sự tôn vinh các bậc tiền hiền đã có công khai cơ lập nghiệp, sinh con đẻ cháu, lưu truyền hậu thế. Về sau, hai vị tiền hiền và hậu hiền lần lượt qua đời nhưng dân làng vẫn giữ nghi lễ ấy cho đến những năm sau này. Riêng bản sắc phong, do sự tàn phá ác liệt của các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên đã bị thất lạc.

Về chuyện xây dựng ngôi đình, các vị bô lão kể lại, vào một ngày nọ, cả làng nhốn nháo, tính chuyện bỏ làng ra đi để đến một nơi khác cư ngụ, vì ở làng Hóa Quê sau ba năm nắng hạn, không vắt ra một giọt nước, đồng khô cỏ cháy, cây cối tiêu điều, bò trâu chết khát. Xót thương cho đàn trâu thiếu nước, lại đau đáu trong cảnh sống khô cằn, cháy hạn, không rõ ai dạy bảo, bọn trẻ chăn trâu đã hè nhau chặt cây, kết lá, dựng nên một túp lều nhỏ bên gốc cây xoài của làng, rồi cũng áo mão cân đai bằng cây lá kết thành, chúng cùng nhau quỳ lạy, cầu nguyện trời cao đất rộng thấu hiểu nỗi khổ của dân lành, cho mưa thuận gió hòa, giúp dân làng được an cư, thoát khỏi cảnh sống khô cằn nắng hạn. Những tưởng đó là trò đùa nghịch vu vơ của bọn trẻ chăn trâu, nhưng không hiểu sao, sau buổi cầu khấn ấy, vào buổi chiều hôm đó, bầu trời đang trong xanh, bỗng dưng nổi gió đùng đùng, từng đụn mây đen ùn ùn kéo về, rồi mưa dồn dập trút xuống, nước trắng đồng, dân làng mừng vui hò reo, đổ ra tắm mưa như ngày hội. Được mùa nước, cây cối dần xanh tươi trở lại. Những ngày tháng sau đó, làng Hóa Quê được sống trong cảnh mưa thuận gió hòa, dân làng an thịnh. Người dân đồng tâm góp công, góp của, dùng vôi vữa, đá núi xây nên ngôi đình làng cạnh cây xoài cổ và lấy ngày mùng 01 tháng tư âm lịch hằng năm – ngày các trẻ chăn trâu cầu mưa, làm ngày tế lễ. Người dân nơi đây gọi là Lễ Mục đồng cầu bông. Kỳ lạ thay, cứ sau buổi tế lễ hằng năm ấy, dù lớn hay nhỏ bao giờ cũng có những cơn mưa mùa hạ, làm mát dịu không khí cả một vùng, mang lại sức sống cho dân làng. Và cũng từ đấy, dân làng đã gộp chung Lễ Kỳ Yên vào Lễ Mục đồng cầu bông để tưởng nhớ các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai cơ lập nghiệp và cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, dân làng được vạn sự bình an.

Trải qua bao cuộc chiến tranh tàn phá và mưa nắng dãi dầu, ngôi đình làng Hóa Quê bị hư hỏng nặng. Đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngôi đình chỉ còn lại mỗi mảng bình phong bong tróc, đổ nát. Tuy cuộc sống sau chiến tranh gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, chưa có điều kiện xây dựng lại, nhưng hằng năm, người dân nơi đây vẫn sắm lễ vật để thờ phụng. Về sau, anh Nguyễn Tuấn Anh, người con của làng, một doanh nhân thành đạt tại thành phố Đà Nẵng, bằng cả tâm nguyện của mình, đã dốc lòng đầu tư làm đường bê tông, xây cất lại ngôi đình khang trang bề thế hơn.

Cây xoài cổ tại làng Hoá Quê.

Lại nói về cây xoài cổ của làng, người dân địa phương cho biết, cây xoài ấy đã có tuổi đời trên 200 năm. Trải qua chiến tranh ác liệt, chịu đựng không biết bao nhiêu trận mưa bom bão đạn, thương tích đầy mình, bao lần chất độc hóa học dioxin của Mỹ rải xuống, các loại cây cối khác đều chết trụi, riêng cây xoài cổ ấy vẫn đứng sừng sững xanh tươi giữa đất trời cùng dân làng Hóa Quê cho đến ngày nay…

                                                                               P.L