Khi làng không còn cổng

Bây giờ tại các xã miền núi, coi như hết nạn “trắng” đường, điện. Khi việc đi lại và thắp sáng đã được giải quyết, gánh nặng giao thông và những góc tối của dân sinh coi như cơ bản đã được gỡ. Hàng hóa, sinh hoạt, nhu cầu thông tin, đã đánh thức cư dân miền núi dậy và có lẽ bây giờ trên núi, chẳng ai ngỡ ngàng với ti vi, điện thoại, xe máy. Điều đó khiến đời sống họ mang một sắc màu mới, vui nhộn và tiếp cận nhiều hơn với những gì rất bình thường mà đồng bằng đã có từ lâu. Cuộc sống đã thay đổi tư duy sinh hoạt, làm ăn của họ, nhất là lớp thanh niên.

Cuộc cách mạng công nghệ đã kéo dài rất lâu rồi, dù miền núi có chậm va chạm, xâm nhập và tiếp thu bao nhiêu đi nữa, thì hơn hai thập niên qua, đời sống, nói rõ hơn là tâm thức của người miền núi về quan hệ xã hội, làm ăn, nói năng, cách hành xử, tư duy các vấn đề xã hội và cộng đồng, đã thay đổi khá nhiều. Chính cái mới đã làm họ mới hơn. Bây giờ, cổng làng miền núi, coi như đã mất. Cổng theo nghĩa cứng lẫn mềm. Ngày trước, vào một làng thì phải qua cổng làng. Bây giờ, dù có nơi vẫn còn (rất ít), nhưng thấy có đóng đâu. Đường sá quy hoạch, xe máy chạy phăng phăng đến chân nhà sàn, cái cổng trở nên vô nghĩa, thậm chí gây trở ngại cho sinh hoạt. Quan trọng hơn, ai sẽ là người đóng và mở cổng? Nhiều đêm ngủ lại miền núi, qua rồi cái thời lặng đi trong hoang sơ của rừng đêm, mà thỉnh thoảng lại giật mình bởi xe máy gầm rú, thanh niên mở karaoke hát ầm ĩ, say rượu la ré. Những hàng rào có thật, đã bị xé rách, mà căn cốt là nó đã bị hạ bệ trong tâm thức người trẻ. Một cán bộ huyện người Cơ Tu nói: Sống, tư duy, sinh hoạt như người Kinh, bây giờ miền núi được 60-70% rồi. Đây là điều đáng mừng, bởi bao đời họ bị “đóng băng” trong khốn khó. Phải thay đổi để họ thoát ra những tăm tối, đói nghèo, tiệm cận hơn với văn minh để quyết định đời sống cá nhân mình.

Nhưng cũng chính làng không như ngày xưa, cái ngày mà chẳng mấy ai, suốt cả đời rời khỏi làng mình, làm gì cũng quanh quẩn trong làng, ai vô ai ra, biết hết, đã giết chết đi những điều tốt đẹp mà chỉ có người miền núi, với đặc trưng đời sống, mới có. Trẻ con, thanh niên không còn nghe lời ông bà, cha mẹ, người già nữa. Bây giờ, làng miền núi, khác gì người Kinh, ai cũng có thể đến và đi. Họ nhìn khách chẳng lấy làm lạ, chẳng còn vồn vã, cũng không dễ dàng mời khách ăn bữa cơm chung với làng nữa. Nếp tư duy, nhận thức về quyền lợi cá nhân, thủ phận, thậm chí ích kỷ, đã ăn vào nếp nghĩ của họ. Họ biết làm giàu, biết quý đồng tiền, và chính điều này khiến họ co cụm khi quyền lợi bị cắt xén. Bây giờ mà nói “lơ ngơ như mấy người trên núi xuống”, là nhầm. Họ đi rất nhiều nơi, nói tiếng Tây, tiếng lóng, xài điện thoại đời mới, chơi faecbook. Nếu không căn cứ vào ngôn ngữ  và gương mặt, rất khó biết họ là người vùng cao. Sự tiến bộ, thoát thai khỏi cái bóng quá lớn của trái núi, cánh rừng, đưa họ hòa nhập nhanh. Chính họ đã phá vỡ đi gần như triệt để những quy ước cấm kỵ mà thuở chưa sinh, cha mẹ họ buộc phải thi hành. Nhưng đến đời họ, mọi thứ đã khác.

Trong một lần đi Tây Giang, người viết ngồi cạnh mấy thanh niên Cơ Tu trên xe khách. Phụ xe nói cho gửi tiền, họ đùa ngay: “Cho nợ được không, đêm qua karaoke hết tiền rồi”. Hầu hết họ vừa học xong lớp 12, chưa cưới vợ, trong làng không có việc, họ đi Duy Nghĩa – Duy Xuyên để phụ hồ, kể rằng làm cũng có tiền, nhưng chủ trả cà giựt, bữa đầu tháng bữa cuối tháng, chán quá, chờ nhận được tiền, phen này bỏ, về nhà chơi rồi kiếm chỗ khác làm. Mới sáng sớm mà họ nồng nặc rượu, lý do đêm qua uống rượu chia tay. Hỏi chuyện bao giờ có vợ, lại nghe trả lời rằng chả biết chọn em nào, vì em nào cũng xinh, rồi cười ầm ĩ. Khi nhắc chuyện bây giờ còn sợ già làng nữa không, họ quyết ngay liền có làm chi mà sợ, già rồi, chạy sao kịp mình. Lần khác tôi đi Nam Giang, ghé một cơ sở sản xuất ở Thạnh Mỹ. Cánh tay đắc lực của cơ sở này là một thanh niên Cơ Tu vừa tốt nghiệp 12, cưới vợ ngay, lý do là vợ đẹp, không bợ thì thằng khác nó tha liền. Ra riêng, nhà cửa tạm bợ, đang ở giai đoạn tích cóp để làm khang trang. Tôi nói đứng vào cho tôi chụp ảnh, xong, anh chàng bá vai tôi: “Anh viết hay hay, cảm động chút, để xin cho em ít gạch men”.

Quang cảnh làng miền núi hiện nay ở Tây Giang

Chưa có con số hoặc khảo sát xã hội học nghiêm túc, kỹ càng về chuyện đổi thay theo chiều hướng không tốt của nếp sống truyền thống với những gì tốt đẹp của miền núi khi giao thoa với đồng bằng, nhưng dễ thấy những giá trị truyền thống tốt đẹp đã phai nhạt đi rất nhiều, có nơi mất hoàn toàn. Đó là chuyện tất yếu, khi cái nền truyền thống một thời gian dài bị lãng quên, nhận thức về cái mới, họ chỉ thấy toàn điều hay mà không hề biết “vi rút” ăn mòn chứa đầy hiểm họa hủy diệt từ từ. Không ai cảnh báo họ, nói rộng ra, là họ thiếu sự chuẩn bị, thiếu sức đề kháng, bắt đầu từ việc học hành không được chú trọng, rồi đói nghèo, thiên tai, khiến họ thấy đời sống cứ co cụm sẽ bấp bênh. Khi điều kiện để bung ra có, lập tức họ như mũi tên bay đi, nhưng điểm rơi thì họ không biết chỗ nào, ra sao. Thiết lập lại từ đầu giá trị truyền thống, song hành, bổ sung và nâng cao hơn khi hòa nhập với văn hóa đương đại, là điều quá cần ở họ, nhất là lớp thanh niên. Chuyện bản sắc ở họ, nhạt nhòa lắm rồi. Làm lại là khó  khăn, nhưng để mất là quá chua xót.

                                                              L.T.V