Hương An- Một thời chợ tết

Khi còn là tổng Xuân Phú lớn, để phân biệt với Tổng Xuân Phú nhỏ sau này, (bao gồm các xã Quế Xuân 1 và 2, Quế Phú, Hương An, Quế Cường, Phú Thọ) vùng đất này có ba cái chợ lớn: Bà Rén, Hương An và Mộc Bài, trong đó chợ Hương An có địa thế thuận lợi nhất vì nằm trên đường thiên lý Bắc Nam lại có ngã ba chạy lên vùng Quế Sơn, Khâm Đức nên việc mua bán ở chợ rất thuận lợi. Không biết chợ hình thành tự bao giờ nhưng chắc khá lâu bởi vùng đất Ngũ Hương (tức Hương Quế, Hương Lộc, Hương Yên, Hương Lư thuộc xã Hương An và Quế Phú, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) này xuất hiện khá sớm trong hành trình mở cõi về phương Nam nhờ công sức của danh tướng Phạm Nhữ Tăng dưới triều vua Lê Thánh Tông. Một thời, chợ Hương An là nơi tập trung người từ tứ xứ về hội tụ: Tân An, Việt An, Đông Phú, Chợ Đàng, Bình Giang, Hà Lam… Theo bước chân người, hàng hóa cũng về theo. Các loại nông sản, lâm sản, cau trầu… từ miền ngược đổ về miền xuôi. Lúa gạo từ các vùng phụ cận mùa nào cũng có. Khoai sắn, rau quả … từ Bình Phục, Bình Giang ngược lên… mùa nào, thức nấy, quanh năm không thiếu thứ gì. Vào dịp Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5) dường như có bao nhiêu chuối người ta mang hết về chợ Hương An. Các loại lá mùng năm, đường bát, mít, các loại bánh trái, gà, vịt… Rằm tháng bảy, rằm tháng mười là các loại bánh trái, hoa quả cúng rằm nhưng đông đúc nhất vẫn là những ngày giáp Tết. Chợ Hương An trở thành chợ đầu mối để tập trung hàng hóa trước khi trung chuyển ra Đà Nẵng hay vào Tam Kỳ. Vùng xung quanh Hương An, nhất là khu vực Hương Yên, Bình Phục, Bình Giang toàn đất cát trắng từ lâu vùng này chuyên canh khoai lang, sắn dây, khoai môn, đậu phụng, hành hẹ…Tuy là vùng cát nhưng lại giữ được nước, có điều ở độ sâu khá lớn do vậy, ở đây, để trồng khoai lang người ta phải vun các vồng khoai bề ngang rộng cỡ đòn gánh và cao… ngang ngực và có khi hàng khoai dài đến cả trăm mét. Nhờ “im nước” và mạch “nước nhĩ” chảy ra thường xuyên nên khoai không cần tưới chứ các loại rau đậu khác phải tưới thường xuyên. Ngoài bàu Sầm Đáng rải rác còn có các bàu nước nhỏ khác, ngoài ra, người ta còn đào thêm các vũng nước nhỏ để lấy thêm nước tưới cho gần. Phụ nữ vùng này dường như luôn “dính” với đôi gàu nhôm trên vai. Từ mờ sáng đã đi gánh nước tưới đến nửa buổi, chặp chiều thêm một cử tưới nữa, đến lúc chạng vạng. Cho nên phụ nữ các vùng khác rất sợ phải về làm dâu vùng này vì sợ phải… gánh nước tưới ngày đêm. Thôi thì đủ chủng loại rau củ: Môn hương, môn thường, đậu cô ve, đậu đũa, sắn dây, khổ qua, hành, kiệu, hẹ… Môn thu hoạch về được cắt trên mạch môn và giũ sơ qua cho bớt cát và cho vào đôi quang gánh gánh lên chợ bán. Môn bán theo bụi hay theo từng thúng. Đậu cô ve bán theo mớ. Đậu đũa bán theo bó, có khi bán chung từng rổ. Sắn dây bán theo củ hoặc từng chùm vài ba củ được buộc bằng những sợi lạt tre. Hành, kiệu, hẹ kẹp theo từng kẹp bằng lạt tre. Người mua theo kẹp hay theo chục… Cải củ cũng kẹp từng bó, người ta mua củ cải về lấy củ muối làm món nhấm (cùng với củ kiệu) ăn với thịt heo trong mấy ngày Tết cho bớt ngán, lá thì muối làm dưa ăn quanh năm. Rồi ngò, rau húng, rau răm, cải tần ô… cái bán theo kẹp, cái bán theo mớ. Ngày Tết, các hàng, hẹ, kiệu, … xếp “sắp lớp” trông thật vui mắt và cảm giác như Tết đang đến rất gần! Những ngày giáp Tết, con cháu tụ về đông đúc nên cần phải sắm sanh mọi thứ nhiều hơn để “phần ăn, phần cúng” nên việc sắm mất khá nhiều thời gian. Thiếu gì thiếu chứ nhà nào cũng mua vài bụi môn để nấu canh với xương hoặc nấu món “môn đặc” dành để bày trong các mâm cúng, phần còn lại ăn cơm bữa. Cải củ được gọt, cắt ra từng mẩu nhỏ như lóng tay. Củ kiệu, củ hành hay cà rốt được cắt rễ, lá chỉ để lại phần củ. Tất cả được đặt lên nia phơi qua vài nắng cho héo để tạo độ dòn khi ăn và được bỏ vào thẩu nước mắm hoặc xì dầu tùy sở thích. Loại “dưa món” này là thức ăn “chiến lược” dùng với thịt heo hay bánh tét, bánh chưng trong ngày Tết hoặc để “ăn cho qua bữa” những ngày khác trong năm. Nhà vốn có sẵn gạo nếp nên người ở quê chỉ cần mua thêm ít đường bát và gừng để làm các loại bánh Tết. Thịt thì thường chia trong làng hoặc làm từ heo nhà, khi thiếu mới phải mua ở chợ. Tuy vậy, trong những ngày giáp Tết các loại thịt vẫn là các gian hàng đông khách. Bọn trẻ con chúng tôi ngày ấy chỉ chờ mẹ mua áo quần từ chợ về là mặc thử liền, không cần biết có vừa cỡ hay không chỉ cần mới thôi là đã sướng rơn rồi. Chợ Hương An thịnh nhất trong những năm 60 kéo dài đến những năm 90 thế kỷ trước. Thời trước 1975 người ta hay nhắc đến cụm từ “Lâm, Kinh, Dương, Sự”- là tên bốn người giàu nhất Hương An trong một thời gian dài. Họ kinh doanh từ máy móc nông cụ, kinh doanh vận tải đến buôn bán hàng hóa hoặc kinh doanh xăng, dầu…

Lăng Bà ở chợ Hương An cũ

Một góc chợ Hương An mới

Bây giờ, chợ đã phát triển khắp nơi, các nhu cầu đều có thể nhanh chóng được đáp ứng nên vai trò của chợ ít còn quan trọng như trước. Chợ Hương An cũng được quy hoạch sang một địa điểm mới rộng rãi hơn nhưng vai trò đã thu hẹp rất nhiều chẳng khác các chợ chung quanh là mấy. Những nét độc đáo của chợ Hương An ngày trước, nhất là chợ Tết chỉ còn lại trong ký ức của một số người đã từng sống với một thời cực thịnh của xứ chợ này.

L.T