Đi về phía núi

Mình đang ở rừng thì bạn nhắn tin với lời nhắn khá hấp dẫn: “Đi về phía núi” và bảo nên đứng lại đó đi và hãy nói một điều gì với mọi người về núi rừng Hiệp Đức. Một tin nhắn dễ thương mà không dễ một chút nào dẫu mình đã đi về phía núi có thâm niên mấy chục năm rồi. Gần gũi đó, thân thiện đó mà nghìn điều bí hiểm. Cứ như nhìn thấy dãy núi Gia Cao, dãy núi Hòn Che trước mặt đầy tiếng chim mà có dễ đến được đâu. Cứ thoang thoảng nghe thấy mùi hương chiều đại ngàn hoang dã bên khe Gió, bên sông Trà Nô mà có đi đến được tận cùng của buổi chiều đâu chứ.

Nhưng phải nói rằng, đi về phía núi là cả những điều bí ẩn đầy đam mê chất ngất cứ quyến dụ, rủ rê mình. Xới tung ký ức ngủ quên của các già làng ta sẽ bắt gặp bóng dáng những bản làng xa xưa yên bình nép mình bên những dãy núi cao, bên những dòng sông, con suối. Sẽ gặp lại những buồn vui một thời của những cư dân đại ngàn lưu lạc, sống hòa mình cùng thiên nhiên bằng những lễ tục rất linh thiêng mà gần gũi. Về ngồi dưới nhà sàn, uống chén rượu cần, nhấm chút thịt rừng khô, nghe vài câu hát lý ê a dài lê thê như những cực nhọc một đời phiêu dạt. Mẹ sinh em nơi bìa rừng, bờ suối, mẹ cắt rốn em bằng thanh dang, mẹ uống xong tô lá rừng là mẹ xuống suối. Cha hái củ mài, củ nâu, củ chuối, ngãi rạm…cho mẹ mỗi lần nằm ở. Con trẻ được xông bằng sáp ong Rú những ngày đầu đời và lon ton cùng mẹ lên rẫy. Làng đâm trâu hoa và lễ hội tháng giêng có cồng chiêng bập bùng, có váy hoa mềm theo điệu múa. Có nhà dài đỏ lửa đêm đêm, có vầng trăng khuya từ từ xuống núi. Có cái rẫy giết gà, có con ma đòi nợ. Có thịt chuột phơi khô, có thịt rừng xông khói. Có gạo đỏ, có nếp đen. Có cơm lam, có bánh ốc. Em cõng gùi lên rẫy, lên nương nghe tiếng chim Clêu cứ trêu đùa bên suối, cha mang ná mang tên vào rừng biết đường đi của con chồn, con sóc. An nhiên như gió rừng, như mây trời, như cỏ lá…

Đi về phía núi, ta còn được nghe âm vang đại ngàn ngày cha ông khai sơn phá thạch. Đâu dễ để tồn tại, đôi khi cần phải có nước mắt mồ hôi và máu nữa. Người đến với làng cũng chỉ vì mưu sinh, cũng chỉ vì dân làng nhẹ dạ cả tin mà sinh ra lừa lọc dối trá và độc ác. Chuyện kể rằng, ngày trước dọc ven sông Trà Nô có rất nhiều vàng. Đoạn từ Khe Vin đến sông Cà Nhan là một bãi vàng lớn. Một hôm có một chủ bượng vàng tên là Lê Lân người Kinh dẫn rất nhiều phu vàng đến khai thác và đổi chác với làng. Lê Lân là người to khỏe, võ nghệ cao cường và tàn độc khét tiếng.Thú vui của ông ta là thích nhắm rượu với lỗ tai người. Ông ta đem muối đổi tai người với điều kiện ai muốn có một cối giã trầu muối thì phải chịu cắt một cái tai của mình. Và đau lòng thay là đã có rất nhiều người của dân làng mất tai vì thiếu muối ăn. Nhưng không thể chấp nhận sự độc ác này mãi được khi sự thiếu muối là triền miên dân làng đã phục lúc ông này ngủ say trên võng đay, trói chặt lại và ném xuống sông Trà Nô. Nơi này về sau được nhân dân trong vùng gọi là Vực Lân – gần nhà Rông Làng ông Tía bây giờ – với vô vàn những câu chuyện kể rất lạ.

Những năm tháng trước ngày Khởi nghĩa làng ông Tía (13.3.1960),  các làng vùng cao Hiệp Đức đều ở sâu trong rừng của thượng nguồn khe Vin, khe Cà Nhan và sông Gia gồm các làng ông Tía, làng ông Xanh, làng ông Điếu và rải rác dưới chân núi Hòn Trúc. Bà con sống tập trung trong những nhà sàn dài, nhiều hộ, nhiều bếp với lối kiến trúc đặc trưng. Rừng rậm nhiều cây và thú dữ, đường sá đi lại khó khăn nên người Kinh rất ít lên chỉ thi thoảng vài người đến trao đổi hàng hóa nên tiếng Kinh không phổ biến. Rất lạ. Mọi hình thức sinh hoạt cộng đồng đều do già làng uy tín quyết định. Con cái sinh ra được đặt tên bằng cách gieo quẻ xin ý kiến thần linh. Người dân Bhnoong tại Phước Trà cũng như người dân Ca Dong của Phước Gia trước đây không có họ chỉ gọi tên thôi như cây Sến, cây Lim, cây Chò Chỉ vậy. Mà có họ để làm gì, trong khi từ bao đời nay ông cha con cháu chỉ biết hái lượm, săn bắt và làm rẫy vậy thôi. Mãi đến sau năm 1969 để tỏ lòng kính trọng Bác Hồ và tin yêu cách mạng nên  bà con làng Phước Trà, Phước Gia đa số đều lấy họ Hồ làm họ chính cho mình.

Rồi ngọn lửa Trà Nô bùng cháy, rồi cách mạng thành công, thống nhất nước nhà, bà con lại dọn làng về định cư nơi ở mới. Cây cao su về với bản làng làm nên sự thay đổi trong đời sống người dân. Câu chuyện cũ chưa kịp kể thì câu chuyện mới đã được viết lên trên quê hương với những đổi thay nhiều chuyện vui mà không thiếu những chuyện buồn trong đôi mắt của những già làng. Những lề lối tập quán cũ, lạc hậu được bãi bỏ, những con đường rừng gồ ghề sỏi đá quanh co đã được bê-tông hóa thẳng tắp… Làm sao để giữ được cái màu xanh của rừng, cái trong veo của từng sông suối; giữ được vốn văn hóa lâu đời thấm đẫm chất rừng trong đời sống đồng bào vùng cao còn là một câu hỏi lớn. Phía núi còn mênh mông, dùng dằng, trăn trở, thẳm sâu và đầy bí ẩn…

Đ.N