Nghi thức tại gia và lễ hội cộng đồng

Cùng với sự biến chuyển của xã hội truyền thống, lễ hội cộng đồng có xu hướng đi vào từng nhóm nhỏ trở thành nét sinh hoạt văn hóa nhằm mục đích bảo tồn di sản, như lễ Kỳ yên ở đình, lễ Vu Lan ở chùa, lễ vía các nữ thần ở miếu, lễ Hầu đồng ở đền, phủ… Còn các nghi lễ gắn với chu kỳ nông nghiệp, như Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu, Trùng cửu, Đông Chí, tiễn Táo quân, trừ tịch…chủ yếu bảo lưu trong phạm vi gia đình.

Xu hướng tái cấu trúc xã hội truyền thống trong đô thị hiện đại đã làm thay đổi nhiều dạng thức lễ hội. Nhìn về quá khứ, lễ hội truyền thống đa số gắn bó mật thiết với sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Thuở xưa, Tết là dịp dân làng cùng nhau tổ chức sự kiện văn hóa nhằm hướng tới mục đích chung. Chúng ta có thể tham chiếu lễ hội người Kinh với nhiều dân tộc thiểu số sống trên miền sơn cước. Qua đó thấy tính chất “ly khai” giữa cộng đồng người Kinh (người Việt) – dân tộc đa số trong quá trình bảo lưu lễ hội truyền thống. Nhiều tộc người sống trên dải Trường Sơn – Cao nguyên ngày nay vẫn duy trì nghi lễ cộng đồng, cho dù hoạt động đó giới hạn trong phạm vi gia đình hay buôn làng, như lễ thổi tai, lễ dựng nhà mới, lễ cúng lúa mới, lễ tạ ơn (quen gọi là lễ hội đâm trâu), lễ Bỏ mả… Trong không gian nghi lễ, tất cả cùng nhau hướng tới đối tượng chung. Chẳng hạn như ở lễ tạ ơn, nghi lễ quan trọng nhất đối với đồng bào dân tộc Tây Nguyên: nghi lễ tổ chức trên khoảng không gian rộng đóng ở vị trí trung tâm buôn làng, giữa dựng một cây Nêu, có con trâu buộc cạnh. Mọi hoạt động nghi lễ đều diễn ra quanh trục cây Nêu. Chúng ta có thể hình dung khoảng không gian này giống như một ban thờ rộng, trải dài trên mặt đất và cây Nêu tựa như nén nhang khổng lồ. Cây Nêu đối với đồng bào Tây Nguyên mang ý nghĩa biểu trưng thiêng liêng. Nó là đường lên trời và kết nối con người với tổ tiên, thần linh…Trên ngọn Nêu ở nhiều nơi gắn lông gà biểu trưng cho mặt trời, yang (Dương), thái dương, trời… Và người dân thực hành nghi thức trên khoảng không gian này xoay quanh trục cây Nêu. Xưa kia người Kinh cũng có tục dựng Nêu vào ngày Tết. Tục ngữ có câu:“Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây Nêu tràng pháo bánh trưng xanh”. Qua đó chứng tỏ, người Việt từng thực hành nghi thức dựng Nêu và những hoạt động nghi lễ liên quan. Sau khi cộng đồng làng xã tan rã, cộng hưởng với các phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, văn hóa truyền thống dần thay đổi và chỉ còn đọng lại trong ký ức.

Ngày nay lễ hội cộng đồng người Kinh trong từng nhóm nhỏ, tổ chức định kỳ mang tính chất bảo tồn di sản truyền thống. Trong môi trường đô thị, hoạt động lễ hội đã thu nhỏ lại thành nghi thức tại gia, cụ thể như Tết Nguyên đán. Chúng ta đón Tết cùng nhau về thời gian, nhưng khác không gian. Tính từ ngày 23 tháng chạp tiễn Táo quân về trời, mỗi gia đình đều tổ chức nghi thức tại không gian riêng. Trong không gian nhỏ hẹp, ít nhiều mang tính chất riêng tư đó, từng hộ tổ chức nghi thức theo truyền thống gia đình. Sinh hoạt văn hóa này đã trở thành tập quán, phổ biến trong cộng đồng người Việt từ Bắc vô Nam. Nó không còn là lễ hội cộng đồng, hiểu theo nghĩa sinh hoạt văn hóa của một nhóm xã hội. Thay vào đó, từng gia đình tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, hoàn cảnh sống mà tổ chức nghi thức theo tập quán riêng. Đứng ở thời điểm hiện tại, chúng ta thấy sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa, còn nhìn về quá khứ xa xưa không khỏi xót xa cho những mất mát mang tính cộng đồng.

Biến đổi văn hóa xảy ra ở cả dân tộc thiểu số lẫn đa số. Khi ngôi nhà dài của người Tây Nguyên ngày càng co ngắn lại, mái nhà Rông có xu hướng hạ thấp xuống, lớp lá bằng cỏ tranh trên mái nhà có thể thay bằng tôn, ngói hay xi măng… viễn cảnh không xa về một không gian văn hóa bị chia cách giữa quá khứ và hiện tại đã tới rất gần. Xu hướng thu hẹp, chia nhỏ đại gia đình thành tiểu gia đình diễn ra càng ngày càng rõ rệt, kéo theo là lễ hội cộng đồng càng có ít cư dân bản địa tham gia. Thay vào đó, du khách đến và đi để trải nghiệm những màn trình diễn mang đậm sắc thái du lịch, thương mại. Lễ hội cộng đồng trở thành di sản quá khứ tái hiện trong không gian văn hóa hiện tại theo tư duy, nhận thức mới. Con người đến gần di sản phi vật thể bằng phương thức tiêu dùng, tiêu khiển kiểu hiện đại. Những vị khách vãng lai đến từ nền văn hóa xa lạ gia nhập không gian văn hóa lễ hội truyền thống. Họ đi từ quan sát không tham dự đến tham dự nhằm tạo nên sự biến đổi văn hóa.

Nhiều lễ hội sau khi phục hiện được đông đảo du khách biết đến. Chúng không nhằm mục đích lấy lại niềm tin đã mất – yếu tố cốt lõi của lễ hội truyền thống – mà tập trung thể hiện tính chất sự kiện của hoạt động văn hóa có sức lôi cuốn, hấp dẫn du khách. Theo đà phát triển của xã hội hiện đại, mục tiêu kinh tế lẫn văn hóa, sự biến đổi, rạn nứt từ bên trong không gian lễ hội là hiện tượng khó thể tránh khỏi. Nội dung lễ hội đã không còn bao hàm, chứa đựng tính chất thiêng liêng của một niềm tin bất diệt, thay vào đó là sự đàn hồi, giãn nở về không gian văn hóa cho phép con người đến và đi. Tính chất cố kết làm nền cho trục thiêng ban đầu đã không còn trụ vững trong bối cảnh chật chội về nội hàm và giãn nở về đường biên. Từ đây, lễ hội truyền thống thay đổi căn bản trên từng cá nhân với tư cách thành viên cộng đồng.

Sau sự chuyển biến của xã hội truyền thống, nghi thức tại gia trở thành chốn nương tựa cho lễ hội cộng đồng. Tiếp theo, xu thế biến đổi văn hóa, xã hội tiếp tục làm biến dạng nghi thức tại gia, như nhiều gia đình không còn tổ chức Tết theo nghĩa đoàn tụ, thờ cúng tổ tiên, thay vào đó là Tết du lịch, Tết du hý, Tết du di… Vào dịp Tết, nhiều người không thấy cần thiết phải làm giỗ chạp, hội họp thành viên hoặc gặp nhau, nhưng mỗi người theo đuổi nhu cầu riêng, dõi theo hình ảnh nhảy múa trên chiếc điện thoại thông minh, nghi thức tại gia tiếp tục hứa hẹn nhiều thay đổi trong nếp sống, đời sống tâm linh người Việt cho đến một ngày có thể trở thành miền ký ức nhắc nhớ về thời xa xưa.

L.H.Đ