Nghe giục trống chầu…

“Nghe giục trống chầu, đâm đầu mà chạy”, câu nói quen thuộc của người dân Quảng Nam trong những dịp hội hè, Tết nhứt có biểu diễn hát bội/ hát bộ ngày càng ít người nhắc nhớ…

Sân khấu buồn tênh

Nghệ thuật sân khấu dân tộc: Tuồng (hát bội), chèo, cải lương, dân ca kịch trong cả nước đang trong cơn khủng hoảng một cách “sâu sắc” do các loại hình sân khấu dân tộc truyền thống hiện nay vừa thiếu vắng người xem, vừa  đối mặt với sự “thất truyền” do thiếu nguồn nhân lực kế thừa.

Tháng 9.2018, hội thảo “Bảo tồn và phát huy giá trị Tuồng cổ Quảng Nam” do Sở VH,TT&DL Quảng Nam, UBND huyện Duy Xuyên phối hợp tổ chức – trong đó có một nội dung bàn thảo quan trọng là tìm những giải pháp bảo tồn, phát huy nghệ thuật Tuồng Quảng Nam qua một số mô hình hoạt động các Câu lạc bộ Tuồng ở địa phương. Xem ra nội dung này hết sức thiết thực bởi đây là cách “cứu vãn” hát bội mà ngành văn hóa và công chúng yêu bộ môn này có thể làm được trong điều kiện khả thể chứ xét toàn cục, một địa phương vốn có truyền thống biểu diễn và thưởng thức Tuồng với một lực lượng kịch tác gia, đạo diễn, biên đạo, nhạc công, diễn viên tài năng, nhiều thế hệ tiếp nối hàng mấy trăm năm như Quảng Nam – Đà Nẵng thì trong bối cảnh hiện tại việc “phục hiện” sân khấu hát bội như một thời “vang bóng” cho riêng địa phương Quảng Nam quả là chuyện trong mơ.

Có thể nói, ta khoan bàn chuyện “chiếc nôi” của bộ môn là ở đâu -Quảng Nam từng nổi tiếng là “đất Tuồng”. Trong công trình “Từ điển hát bội” (Hoàng Châu Ký, Nguyễn Lộc) từ những năm 1990 thế kỷ trước các nhà nghiên cứu đã bàn khá kỹ về nghệ thuật Tuồng đất Quảng. Sau khi tách tỉnh từ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (1997), Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Nam đã chủ trì biên soạn công trình “Tuồng Quảng Nam” (2001) do giáo sư Hoàng Châu Ký chủ biên. Diễn trình hát bội đất Quảng được công trình trên khẳng định: “Từ trò diễn xướng dân gian đến nghệ thuật cung đình, từ “chiếu Tuồng” đến nghệ thuật sân khấu Tuồng là một quá trình vừa khai sáng vừa tích lũy, vừa chọn lọc vừa bổ sung để đến hôm nay nghệ thuật Tuồng trở thành tài sản vô giá, góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống, đậm nét nhân văn của con người xứ Quảng” (Lời đầu sách).

Nhưng chỉ là mơ…

Khi chia tách tỉnh, có lẽ lãnh đạo cũng như ngành văn hóa ở tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ – khi nhận về Đoàn dân ca kịch bài chòi, để lại Đoàn Tuồng Quảng Nam – Đà Nẵng ở lại với Đà Nẵng (tiền thân của Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh hiện nay) chắc chắn có một niềm tin lớn là sẽ xây dựng một nhà hát Tuồng mới với lớp diễn viên trẻ để tương xứng với “đất hát bội Quảng Nam” vì thời điểm ấy sân khấu truyền thống còn sức hấp dẫn lớn, các cơ sở đào tạo còn “thi tuyển” sôi nổi,  quy trình chọn lọc tài năng được tiến hành một cách nghiêm cẩn. Vấn đề xây dựng lại đoàn Tuồng mang tính chuyên nghiệp được các nhà nghiên cứu và công chúng yêu nghệ thuật chờ đợi cho đến nay đã quá 20 năm. Thời gian đủ để một diễn viên qua hết thời “thanh sắc”, đặc biệt – trong ý nghĩa “tương tác” với nghệ thuật – lớp công chúng “trung niên” (40, 50 tuổi thời cuối những năm 90, thế kỷ trước) có hiểu biết – vì có hiểu mới yêu thích, say mê hát bội – nay đã vào hàng “xưa nay hiếm”. Về phong trào, Sở Văn hóa – Thông tin tổ chức được một số lần hội diễn Tuồng không chuyên – nay lớp diễn viên “phong trào” cũng kẻ còn người mất, người còn muốn “truyền nghề” cũng chẳng có người theo. Ngay cả đất “hát bội” Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ… phong trào vẫn “phập phù” kiểu “khi có khi không”. Có chăng  hoạt động biểu diễn thường xuyên ở cấp độ “bán chuyên nghiệp” như ở Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Hội An và “không chuyên” ở các Câu lạc bộ thuộc các huyện Quế Sơn, Hiệp Đức. Trong bối cảnh lực lượng chuyên nghiệp không có thì hoạt động phong trào khó mà nâng cao trình độ biểu diễn (diễn viên hát, múa, biểu diễn động tác hình thể, hóa trang, đạo cụ, âm nhạc Tuồng, biên kịch, biên tập, biên đạo, đạo diễn…). Phía khác, nếu không xây dựng “phong trào” biểu diễn Tuồng ở các địa phương thì lớp trẻ càng không có môi trường để “cảm nhận” nghệ thuật Tuồng từ các nghệ nhân, từ lớp công chúng có hiểu biết ở địa phương gắn với sinh hoạt đời thường. Vực dậy nghệ thuật cổ truyền vì vậy cần có một dự án bảo tồn đồng bộ ở cấp vĩ mô từ các khâu đào tạo: nghiên cứu, biên kịch, đạo diễn, biên đạo, họa sĩ, diễn viên, nhạc công và đào tạo cả… khán giả.

Cứu vãn hát bội cần những giải pháp căn cơ, thực tế

Nhiều năm qua, dự án giáo dục “sân khấu học đường” đã đưa được sân khấu cổ truyền vào trong trường học, các em được học, được diễn các trích đoạn Tuồng hay nhưng rõ ràng, dự án có tính hạn định thời gian, đối tượng, khu vực nên có bộ phận được “đào tạo” nhưng phần lớn các lớp, các trường, các “thế hệ” khác thì không. Một điều hết sức bức bách cần phải được giới nghiên cứu bàn thảo là nguyên do vì sao Tuồng rơi vào khủng hoảng như vậy. Một điều chắc chắn – khoan vội đổ lỗi cho sự lấn át của các phương tiện nghe nhìn, của các sân khấu ca nhạc đương đại – chung quy do lỗi cả ở những người “làm nghề” và người “dạy nghề”. Trước hết, Tuồng là nghệ thuật vừa dân gian vừa bác học. Dân gian là “gốc “ của Tuồng, bởi Tuồng có gốc từ diễn xướng dân gian (nghi thức tế lễ), nội dung thể hiện những ước mơ, khát vọng của nhân dân về lý tưởng yêu nước, trung quân, đạo lý nhân nghĩa ở đời. Bác học vì Tuồng là nghệ thuật sân khấu tự sự phương Đông, sân khấu hiện thực tả ý (Mịch Quang), sân khấu của các thủ pháp mô tả, ước lệ, tượng trưng – đúng hơn là sân khấu mô tả, ước lệ, tượng trưng – loại ngôn ngữ quy chuẩn về mặt nghệ thuật để biểu hiện hiện thực đời sống (Tuấn Giang), sân khấu biểu diễn theo trình thức, mô thức hoàn cảnh, nhân vật, kiểu nhân vật (Hoàng Châu Ký). Thực vậy, muốn “cảm” Tuồng phải hiểu từng “hệ thống ước lệ” riêng biệt như nghệ thuật mô tả (bộ bê, bộ lia, bộ hình, bộ tay, bộ chân), hệ ước lệ về nhân vật, hóa trang (vai trung, vai nịnh, vai nồi niêu… ước lệ về kẻ/ vẽ mặt, trang phục), ước lệ đạo cụ (roi ngựa, binh khí…), ước lệ giọng điệu, ước lệ thời gian, ước lệ không gian, đồng thời với ước lệ là “hệ thống tượng trưng”, “nghệ thuật cường điệu” (hạng người, tầng lớp xã hội, tuổi tác, tính cách, hoàn cảnh, ngữ khí…). Đặc trưng của Tuồng là cấu trúc tích trò tự sự bi – hùng kịch, nghệ thuật mô tả ước lệ, tượng trưng, cường điệu, đặc tả. Như vậy, do tính chất đặc thù của bộ môn nên việc “cải tiến” Tuồng theo lối “phản ánh hiện thực” xã hội hiện đại kiểu “kịch nói” quả là một thách thức quá khó khăn trừ việc sáng tác kịch bản Tuồng theo đề tài lịch sử, từ lịch sử soi sáng những vấn đề mới mẻ có giá trị đối với con người hiện tại. Về phía khán giả, nếu một học sinh không được diễn giải về nghệ thuật biểu diễn Tuồng thì như các em bày tỏ – chỉ thấy các nhân vật cổ trang “thét, quát” trên sân khấu mà chẳng hiểu chi hết. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục lấy làm lạ là ở nước ta, ngay từ cấp tiểu học đã có thầy dạy mỹ thuật, âm nhạc nhưng không có thầy dạy về sân khấu và một học sinh từ tiểu học lên đến trung học phổ thông thậm chí đại học (trừ các ngành khoa học nhân văn) vẫn không được học về sân khấu. Như vậy, việc “đào tạo” khán giả đâu chỉ là chuyện “nói cho vui”…

Các trích đoạn Tuồng hay như “Nguyệt Cô hóa cáo” (Tuồng Tiết Giao đoạt ngọc), “Địch Thanh ly Thợn” (Tuồng Ngũ hổ bình Liêu), “Tạ Ngọc Lân lăn lửa” (Tuồng “Ngọn lửa Hồng Sơn”), “Linh Tá đưa đường Kim Lân” (Tuồng San Hậu)… vẫn thu hút đông đảo khán giả kể cả du khách nước ngoài – vốn chỉ được “diễn giải” cách thưởng thức nghệ thuật một cách vắn tắt qua tờ rơi.

Nỗi lo “thất truyền” là sự thực khi nhiều năm qua nhiều đoàn nghệ thuật không có lớp diễn viên kế cận. Năm 2018 vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã “giải cứu” cho Tuồng, ủng hộ  đào tạo 36 diễn viên theo kiểu “truyền nghề” cho Nhà hát Tuồng Trung ương bằng việc hỗ trợ toàn bộ kinh phí. Một nhà hát cho đất Tuồng Quảng Nam – một địa chỉ du lịch văn hóa hy vọng sẽ trở thành hiện thực bởi sự “chờ đợi” đã quá dài không thể “triển hạn” được nếu không muốn hát bội hoàn toàn vắng bóng. Những người yêu hát bội Quảng Nam có quyền mơ ước nhất là mỗi độ xuân về…

                               P.T.Đ