DI CẢO CỦA MỘT NGƯỜI SAY MÊ VĂN HÓA QUẢNG NAM

Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Hội An và gia đình cụ Nguyễn Bội Liên (1911-1996) vừa tổ chức bản thảo và xuất bản cuốn sách “Di cảo Châu Ái Nguyễn Bội Liên” (NXB Đà Nẵng 2017) nhân kỷ niệm Ngày Di sản Việt Nam (23.11), 18 năm Ngày Di sản Văn hóa Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới (04.12.1999-04.12.2017)

Nguyễn Bội Liên – nhà nghiên cứu văn hóa địa phương vốn là một nhà nghiên cứu “tài tử” mà sự thôi thúc mãnh liệt bởi tình yêu quê xứ Quảng Nam, yêu đất, yêu người, say mê cố sự. Ông vốn người làng Hồng Triều, Trà Nhiêu (nay thuộc xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên), thời niên thiếu là một học sinh trường Dòng Pellerin (Huế) cuối những năm 20 thế kỷ XX với vốn ngoại ngữ thông thạo đủ để đọc trực tiếp tài liệu tiếng Pháp, cùng với vốn chữ Nho (Hán văn) học từ người anh ruột – cụ Cửu Uyển, một tú tài Hán đỗ kỳ thi chữ Hán cuối cùng của triều Nguyễn.

Cuốn “di cảo” với gần 350 trang sách (khổ 19x27cm) chia làm 3 phần. Phần I là những công trình khảo cứu lịch sử – văn hóa của nhà nghiên cứu Nguyễn Bội Liên về Hội An xưa (về địa danh Hải Phố, Faifoo…, về ghe bầu xứ Quảng, về giao hôn với ngoại kiều, về nghề thủ công, về ẩm thực xưa, về các thú chơi dân gian truyền thống…). Phần II là các sáng tác thơ – vịnh, liễn đối, văn tế, Tuồng hát bội của tác giả Nguyễn Bội Liên. Phần III là những tác phẩm dịch thuật của dịch giả Nguyễn Bội Liên về “Phố người Đường và sự biến thiên mậu dịch của Hội An”, “Khảo về nước Chiêm Thành” (tiếng Pháp), “Liêu trai chí dị” (tiếng Hán) và một số bài viết (phụ lục) về nhà văn hóa Nguyễn Bội Liên (Vài nét về “Gió trăng cố quận” (công trình sưu tầm, dịch thuật thơ văn cổ về Hội An); “Nguyễn Bội Liên – người trông cậy vào mình”; “Một người Hội An khí tiết”)

“Hải Phố – một cảng thị tiền thân của Hội An” – một tồn nghi chưa giải minh

Dưới góc độ nghiên cứu di tích, bài viết “Hải Phố –  tiền thân của Hội An ngày nay” của cụ Liên đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử địa phương và chuyên ngành Quảng Nam – Đà Nẵng (Sở VH-TT QN-ĐN xb 1983) là một “đề xuất” nghiên cứu có đầy đủ sở cứ khi nhà nghiên cứu đã viện dẫn “luận cứ” khảo cứu của các học giả hàng đầu về Hội An như Cheng-Ching-Ho (Trần Kinh Hòa) trên Tân Á học báo (quyển III, kỳ I, 01/8/1957), Nguyễn Thiệu Lâu về sự tích “Thập Lão” (Tập san sử địa số 7-8 xb 1967)… và tư liệu điền dã mà mình thu thập trên chính quê hương bản quán thì khi Hoa thương vào buôn bán ở Quảng Nam – cảng thị đầu tiên để người Hoa lập “phố” chính là đất Trung Phường (đầm Trung Phường) Trà Nhiêu (Trước thuộc Thăng Bình, sau về Duy Xuyên). Cuối những năm 80 thế kỷ trước, giới khảo cổ đã từng có nhiều đợt khảo sát để đi tìm “một thành phố chìm dưới cát” theo đề xuất của nhà nghiên cứu Nguyễn Bội Liên nhưng chưa kết quả. Trước khi mất GS. Trần Quốc Vượng khi trao đổi với đồng nghiệp, học trò còn dặn dò hãy lưu ý đến “vấn đề Hải Phố” của cụ Bội Liên…

Những sáng tác còn dư vang…

Cảm hứng về bản thân – một trí thức Tây học buổi giao thời, một nhà Hán học buổi suy tàn, một người kháng chiến cũ đang sống ở chế độ cũ (trong kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp (1945-1954) cụ từng là chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã Duy Nghĩa, Duy Xuyên), cụ luôn tự dặn lòng hãy giữ gìn tiết tháo của người quân tử có chút chữ nghĩa thánh hiền trong cuộc thế nhố nhăng “…Bảo lòng, lòng hãy quên mà sống/ Gió bụi thây đời, ta giữ thanh” (Cảm hứng). Cụ Bội Liên có cái thanh thản, thong dong của người “đạt đạo” bởi cụ đã nghiệm sinh “Lợi danh trước mắt chòm mây bạc/ Sự nghiệp sau lưng nắm cỏ khâu” (Than già). Trong thơ tình, người đang yêu Nguyễn Bội Liên tràn đầy mộng mơ, đa tình, đa cảm “mảnh trăng suông – mối tình suông – tương tư mang nặng nào ai thấu-trên gối âm thầm giot lệ tuôn…” (Đợi chờ, 1939) hay “Lòng ta trống quá ai ơi/ Vắng ai như thấy đất trời bỏ hoang” (Đợi chờ 2, 1939). Vận vào đời riêng, cụ Nguyễn có những bài thơ “khóc vợ” (chết vì bom do máy bay Pháp ném ở Duy Nghĩa năm 1953) hết sức chân tình với thể thơ song thất lục bát “Kể bao nỗi tâm tình đứt ruột/ Nói cùng ai, không bút mực nào/ Mênh mông đất rộng trời cao/ Bụi vàng, cát trắng lối nào tìm nhau…” (Khóc Hường 1). Nhiều câu thơ đã đạt đến mức “kinh điển” của dòng văn học lãng mạn thời kỳ đầu “Đành muôn kiếp ân tình đứt đoạn/ Gặp nhau chăng trong quãng mộng hồn/ Nhớ nhau gan ruột bồn chồn/ Thịt xương dù nát dễ chôn hận này” (Khóc Hường 1). Thơ tặng bạn bè là những giọt mặn của tình tri kỷ tri âm “Gọi hồn tri kỷ qua sông núi/ Nhớ nghĩa tao phùng lúc gió sương” (Cảm khái ngày tiểu tường anh Trần Liễn), tặng cho những tình yêu trong cõi mộng“Thâu canh  mờ tỏ ngọn đèn/ Một mình, một bóng, gối chăn lạnh lùng” (Khóc Mai)…

Một “sở trường” của tác giả nữa là tài làm câu đối và văn tế. Trong nhiều những câu đối tập Kiều, tập Chinh phụ ngâm, câu đối tặng thân hữu, người tri kỷ, tri âm thì nổi bật có đôi câu đối tặng cụ Võ Hầu lúc sinh vãng (tác giả là bạn bè thân với con trai cụ, câu đối viếng cụ khi từ trần đang lúc cụ còn sống): “Dữ lệnh lang kim thạch đính giao, thiểu hữu vong niên thanh nhãn đãi-Kim tôn ông ngọc lâu phó hội, hoài nhon nan mích bạch vân thâm” (Cùng con trai cụ vàng đá kết giao, cụ quên tuổi tác dùng con mắt xanh đối đãi người bạn trẻ-Nay ông được vời lên làm bài phú ngọc lầu, tôi dẫu nhớ ông cũng không thể nào vạch mây trắng để  viếng thăm ông được) và câu đối tự làm tặng mình trước khi mất: “Cư trần bát thập dư thu vô lợi vô danh tiếu khứ hân nhiên bất di hám- Liễu cuộc nhị tam thốn thổ hưu phi hưu thị tức kiên phao tận cổ kim sầu” (Ở trần (gian) tám mấy năm trời, không lợi không danh, cười cợt ra đi không tiếc nuối-Kết cuộc vài ba tấc đất, hết không, hết phải, nghiêng vai trút hết cổ kim sầu). Cụ còn có bài “Văn tế lấy mình” vốn “thân thế long đong-phong trần lận đận-khách tài hoa con tạo vốn không yêu…”

Nhà dịch thuật “độc sáng”

Ngày nay có khá nhiều người thông thạo đôi ba ngoại ngữ và chuyện dịch thuật đôi lúc được xem là việc “thường tình”. Thế nhưng đặt trong một bối cảnh lịch sử cụ thể thì việc “chọn” dịch cái gì và dịch bảo đảm những nguyên tắc “tín, đạt, nhã” (thông tin đúng nguyên bản, đạt yêu cầu văn phạm, nghệ thuật, phong cách văn bản, đạt độ thẩm mỹ nguyên bản khi chuyển ngữ).Trước năm 1980 cụ Liên chọn dịch bải thơ “Du Hội An phùng Vị Thành ca giả” (Đi chơi Hội An gặp người ca nữ quê Vị Thành (Nam Định) của Cao Bá Quát, thơ văn Hoa Kiều viết về Hội An, thơ cụ Nguyễn Nghiễm, thân sinh Nguyễn Du viết ở Hội An… là một lựa chọn phù hợp, tiên phong và nổi trội, chưa kể đến các tài liệu lịch sử, văn hóa Hội An, Quảng Nam qua góc nhìn các tác giả nước ngoài từng đến Hội An xứ Quảng. Nguyễn Bội Liên dịch sát đúng văn bản gốc (tín, đạt) và điều đặc biệt hơn là dịch hay (nhã), đạt đến cái “hồn cốt” của văn mạch, văn khí của nguyên tác như trường hợp bài phú “Làm giúp đưa người Thanh về quê” (in trong tập dịch thuật, sưu tầm mang tên “Gió trăng cố quận” – NXB Đà Nẵng 1996). Mượn lời một họa sĩ phương Tây rằng “Vẽ là yêu trở lại” với cụ Bội Liên thì “Dịch là yêu trở lại” mà ngày nay việc chọn tác phẩm dịch, dịch thuật, công bố tác phẩm – theo các nhà nghiên cứu – đó chính là việc tiếp nhận lại tác phẩm ở một cộng đồng tiếp nhận khác đòi hỏi năng lực “tiếp nhận” uyên thâm của bản thân người dịch trước khi tác phẩm đến với công chúng.

Di cảo của cụ Bội Liên vẫn còn nhiều, khá nhiều nhất là trong “tàng thư” của bạn bè, tri kỷ tác giả – vẫn mong di cảo sẽ được bổ sung hay được tiếp tục công bố trong tương lai bởi những tấm lòng “tri ngộ”…

P.T.Đ