Đầu năm nghĩ về “Văn hóa lễ hội”…

Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Cả – Tết lớn nhất trong hết thảy các lễ Tết (hay “tiết”) của người Việt. Thời điểm khởi đầu mùa xuân cũng là thời điểm tịch điền, xuống đồng khởi đầu nông vụ – đó là “thời điểm mạnh của sinh hoạt cộng đồng” (GS. Đinh Gia Khánh). Trong lịch sinh hoạt cổ truyền của cư dân nông nghiệp, thời điểm này chính là thời điểm của các lễ hội mùa xuân (lễ tịch điền, lễ hội xuống đồng, hội cấy, lễ cầu ngư, lễ đua thuyền đảo thủy, lễ cầu bông, lễ/Tết Nguyên tiêu, lễ giỗ tổ nghề…). Hai hoạt động của một lễ hội gồm “ lễ” và  “hội”  là một diễn trình đan xen, hài hòa một cách hữu cơ nên thu hút mạnh sự tham gia của cộng đồng và tháng giêng được gọi “tháng ăn chơi” (ca dao). Nhiều người than phiền rằng người Việt có quá nhiều lễ hội (hơn 8.000 lễ hội/năm) và đề nghị nên chia thứ bậc theo quy mô, hiệu quả. Các lễ hội tác động đến đời sống gia đình, cộng đồng trong phạm vi hẹp, thường chỉ có “lễ” mà không có “hội”, các lễ thức được thực hiện trong phạm vi gia đình, dòng tộc, thôn, xóm…thì nên được xếp vào loại lễ lệ hay lễ tục và lễ thức thực hiện dành cho cộng đồng rộng hơn, đông hơn, có “lễ”, có “hội”… là “lễ hội”. Thực tế – với góc độ văn hóa tâm linh thì  “lễ”/ thức nào cũng thiêng liêng và nhu cầu đồng cảm, “cộng cảm”, “cộng mệnh” giữa những người tham gia lễ lệ, lễ tục cũng biến một sự kiện “thực hành văn hóa” thành lễ hội. Ngay một buổi lễ giỗ trong phạm vi gia đình, dòng tộc thì sau phần “lễ” thì phần “hội” chính là bữa “ăn giỗ”, “ăn chạp” – bữa cơm cộng cảm/ đồng cảm của những người thân cùng tưởng niệm người thân (tổ tiên, ông bà, cha mẹ…) đã khuất…

Về “văn hóa lễ hội”

Bản thân khái niệm lễ hội đã là một hiện tượng/ sự kiện văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Alessandro Falassi nhận định: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống” (Viện nghiên cứu văn hóa – Folklore, một số thuật ngữ đương đại – NXB KHXH, Hà Nội 2005 tr.130). Xét về mặt từ nguyên, lễ hội bắt nguồn từ một tiếng La tinh có tên “Festum” – có nghĩa là “sự vui chơi, vui mừng, hân hoan của công chúng” (các từ “Féte” (Pháp), “Festival” (Anh) cũng mang nghĩa như vậy).Trong ý nghĩa văn hóa, các sự kiện, hoạt động trong lễ hội đều mang tính biểu tượng – vì thế các hoạt động phần lớn mang tính “tượng trưng” (biểu thị tính phi thường của thần linh, của vật phẩm cúng hiến…), “thay thế” (vật biểu thị thần linh, người thực hành nghi lễ, vật hiến sinh…), “phô trương” (trang hoàng không gian hành lễ, lễ phẩm, tái hiện công tích thần linh…), “giao cảm khác thường” (giao cảm với siêu nhiên, với cộng đồng)…trong đó tính chất giao cảm giữa người thường và thần linh, người với người đều khác với những hành xử thông thường, ngày thường. Một điểm dễ nhận diện là tính chất “thăng hoa”, “phi thường” (hay được gọi là “hỗn độn”) trong các màn diễn xướng nghi lễ hay các diễn xướng trò chơi (hội) như trò xoay kiệu ngang nhiều vòng trong lễ rước kiệu, màn nhảy trên lửa than hồng bằng chân trần mà không bị bỏng… Đặc biệt các trò tranh nhau đạt lễ vật-biểu tượng tài lộc, may mắn như cướp cờ, cướp hoa tre (Hội Gióng – Sóc Sơn, Hà Nội), cướp Phết (Hiền Quan -Phú Thọ)… Chính tính chất “trò chơi” trong lễ hội khiến sự giao cảm giữa con người và thế giới thần linh, thế giới siêu nhiên thêm tính thiêng liêng, cộng cảm và trong mối cộng cảm giữa con người với nhau – những người dự lễ hội càng thân gần, ngang bằng về địa vị, ngôi thứ, ai cũng có thể nhận được “lộc” của đấng siêu nhiên ban tặng. Có thể nói ngoài ý nghĩa của sự kiện lễ hội thì việc “thực hành lễ hội” thông qua nghi thức trò diễn, trò chơi là yếu tố tăng sức hấp dẫn của lễ hội, thu hút sự tham gia sôi nổi của cộng đồng. Người xưa từng nhận định “tơi tả như xem bơi, tả tơi  như xem hội” biểu thị sức sống của các “hội hè đình đám”.

Những năm qua, nhiều nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa đều lên tiếng về “văn hóa lễ hội” – trên bình diện “ứng xử văn hóa” đối với lễ hội. Nhiều nghi lễ có tính tượng trưng tuy lễ phẩm đơn sơ nhưng gói gọn tâm thành đã bị “biến tướng” thành “phương tiện trục lợi” của người chủ quản các cơ sở thờ tự như lễ “dương sao giải hạn” đầu năm tại các chùa, miếu…, lễ “phát ấn đền Trần” (Nam Định) – một hình thức ban “lộc” cầu an đã thành trò giành giật hỗn loạn (năm Kỷ Hợi 2019 có gần 2.000 nhân viên giữ an ninh), lễ hội Phết Hiền Quan – bị “cấm”vì bạo lực, và mất an ninh. Như thế yếu tố mê tín đã lấn át yếu tố văn hóa, cảm xúc thành kính, hoan hỉ đã thành “phản cảm”…

Lễ hội luôn là văn hóa

Xét trên bình diện ứng xử sao cho có văn hóa trong lễ hội – việc lễ hội “biến tướng, phản cảm” luôn có ba thành phần liên đới trách nhiệm đó là người quản lý lễ hội (ngành văn hóa, chính quyền sở tại…), chủ thể thực hiện nghi lễ, các trò diễn, trò chơi (chủ cơ sở thờ tự, tổ chức lễ hội…) và người tham gia lễ hội.

Người xưa từng dạy “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” nêu tính chất “cá biệt” của tập tục, nghi lễ của từng địa phương gắn với “cơ tầng văn hóa” của cư dân địa phương. Không thể “phê phán” những lệ tục truyền thống bằng cảm quan hiện đại. Những nghi thức, trò diễn nào cũng có nguồn gốc và tính tương thích văn hóa của cộng đồng cư dân và đặc biệt tính chất quy định, quy ước của trò diễn, trò chơi phù hợp với nhu cầu tâm linh, cầu mong sức khỏe (cầu “nhân khang”), cầu được mùa (cầu “vật thịnh”, cầu mưa thuận gió hòa). Người quản lý lễ hội phải có cái nhìn toàn diện về nhu cầu tâm linh, về cách thức thực hành văn hóa của người dân để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội qua việc tuyên truyền việc nhận thức về văn hóa lễ hội, qua phương thức quản lý thích hợp trong sự “biến đổi văn hóa”, tránh tình trạng “quản” không được thì “cấm” hay “hành chính hóa” lễ hội bằng việc can thiệp sai lệch diễn trình lễ hội cổ truyền. Phía những người tham gia lễ hội cần có hiểu biết sâu hơn về tính chất, ý nghĩa của lễ hội, nhất là “quy chuẩn” của “lệ làng, phép nước” trong hoạt động lễ hội. Tính quy mô tức phạm vi, hạn định của lễ tục về đối tượng tham gia, về chủ thể thực hiện nghi lễ trong các hoạt động lễ hội cần phải được đặt ra trong hiện tại như nghi thức “chém lợn” (Ném Thượng, Bắc Ninh) đã được “phục hồi” bằng cách làm trong rạp kín, không cho nhiều người và trẻ em xem. Hội cướp Phết sẽ diễn ra sôi nổi nếu như các nhà tổ chức có biện pháp không cho thanh niên các làng khác tham gia vào trò diễn vốn có “quy ước” riêng, không bạo lực, đề cao sự an toàn.

Nguyên tiêu ở Hội An (16 âm lịch) năm Kỷ Hợi 2019, hình ảnh đoàn người “xin lộc” xếp hàng có trật tự “xuyên đêm” rằm tháng giêng từ sân vận động Hội An đến Chùa Ông là hình ảnh đáng mừng cho việc bảo tồn, phát huy những giá trị nhân văn của lễ tục truyền thống trong đời sống đương đại.

                                                   P.T.Đ