Ở nơi không chỉ có hoa vàng trên cỏ xanh

Trước đây, từ đất Bình Định sang Phú Yên phải vượt đèo Cù Mông. Nằm trên quốc lộ 1A, Cù Mông là một nhánh núi từ vùng cao nguyên An Khê đâm ra biển, đường đèo dài 7km, đỉnh đèo cao 245m, đường dốc và có những khúc cua gấp, hai bên là núi cao do đó cung đường này khá hiểm trở. Từ khi có tuyến đường Quy Nhơn – Sông Cầu (Quốc lộ 1D) thì việc đi lại giữa Bình Định và Phú Yên trở nên dễ dàng hơn. Cái tên Cù Mông nếu hiểu nôm na dễ biến thành tiếu lâm. Thật ra tên đèo gắn với một truyền thuyết ở địa phương, những người lớn tuổi ở đây cho rằng tên xưa của đèo Cù Mông là Cù Mãng. Cù là linh vật có đầu lân mình rồng, Mãng là con rắn thần. Những khi thời tiết thay đổi, mưa giông, gió giật nổi lên, thì dân địa phương cho rằng Cù dậy, bởi cả một vùng đầy sấm chớp, những ngọn cây cong oằn trong màn mưa dày đặc tựa như thân hình linh vật chuyển mình; ở ngoài biển, những đợt sóng lớn xô mạnh, vào vách đá lởm chởm của ngọn núi chạy dài tận bờ biển làm nước bắn tung tóe trắng xóa trông giống như đầu con rồng đang há mõm hút nước…[1]

Vũng Rô

Vượt đèo Cù Mông, đến địa phận huyện Tuy An, qua cầu Ngân Sơn có một con đường rẽ về phía Đông dẫn đến gành Đá Đĩa. Cũng trên con đường này, trước khi đến gành Đá Đĩa ta sẽ gặp nhà thờ Mằng Lăng – một ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo. Theo các vị cao niên ở địa phương, Mằng Lăng là tên từ một loài cây trồng rất nhiều ở vùng này từ xa xưa, tán phủ rộng, lá hình bầu dục, hoa mọc thành chùm màu tím hồng, đáng tiếc là ngày nay trong khu vực không còn cây mằng lăng nào. Qua mô tả thì cây mằng lăng có vẻ giống cây bằng lăng ngày nay trồng ở nhiều nơi, phải chăng chúng cùng một họ. Nhà thờ được xây dựng theo kiểu kiến trúc Gothic trong khuôn viên rộng hơn 5.000m2. Trước sân nhà thờ có một khu hầm nhỏ được xây dựng trong lòng một quả đồi giả. Bên trong hầm có nhiều tác phẩm điêu khắc kể lại câu chuyện về cuộc đời của thầy giảng Anrê Phú Yên – người được Giáo Hoàng phong lên bậc Chân Phước (Á Thánh) vào năm 2000. Hiện nay, ở đây còn lưu giữ cuốn sách song ngữ La tinh và Quốc ngữ được in tại Roma vào năm 1651, đó là quyển giáo lý “Phép giảng tám ngày” của Linh mục Alexandre de Rhodes – một trong những người khai đã sinh ra chữ quốc ngữ Việt Nam.

Thap Nhạn

Tiếp tục đi về hướng Đông khoảng 10km là đến gành Đá Đĩa, đây là một thắng cảnh độc đáo của nước ta. Nhìn từ xa, gành đá như một vỉa than lộ thiên gồm những khối đá hình lăng trụ đen tuyền xếp chồng lên nhau trông giống những chồng đĩa lớn. Dọc bãi biển này, ngoài gành Đá Đĩa lộ thiên còn có những vị trí đá đĩa khác bị cát vùi lấp mà người ta chưa tìm thấy. Theo các nhà địa chất học, hàng triệu năm trước, khi núi lửa ở vùng này hoạt động, dung nham nóng chảy phun trào từ miệng núi lửa thành dòng trên mặt đất, khi ra đến biển, dung nham bị nước biển làm lạnh nên đông cứng lại, kết hợp với hiện tượng di ứng lực, khiến các khối nham thạch bị đông cứng rạn nứt thành những khối cột đa giác 5 cạnh và 6 cạnh với tiết diện khoảng 40cm, đồng thời do tác động lực ngang, những cột này lại tách thành những “đĩa” dày 25 – 30cm. Gành Đá Đĩa là di sản thiên nhiên hiếm hoi trên địa cầu, ngoài Phú Yên chỉ có ba nơi khác có hiện tượng này, đó là gành Đá Đĩa Giant’s Causeway (Ireland), gành đá đĩa Los Órganos (Tây Ban Nha), và gành Đá Đĩa ở hang động Fingal (Scotland). Bờ cát uốn cong cạnh Gành Đá Đĩa mịn màng, thoai thoải ra xa, nước biển trong xanh là bãi tắm lý tưởng.

Kéo dài về phía Nam của gành Đá Đĩa là Bãi Bàng. Bãi Bàng lộ nền đá gốc là bazan cột, phủ bên trên là “dĩa” bazan mài tròn cạnh và ít tảng granit. Nền đá bazan thường xuyên ngập triều tạo thành một bãi đá có mặt nhẵn bóng dưới hàng cây bàng xanh mát. Cách gành Đá Đĩa khoảng 1km về phía Bắc là ngọn hải đăng trên gành Đèn, hải đăng cao 22m, dẫn đường cho tàu bè ra vào vịnh Xuân Đài. Ban đầu người ta gọi khu vực này là gành Đá Đen, về sau hải đăng được xây dựng nên gọi là gành Đèn. Khu vực này có chiều dài khoảng 1.5km, cấu tạo bằng đá granit, bị cắt xẻ bởi hệ thống khe nứt theo các phương khác nhau. Theo các nhà địa chất học, do tác động của sóng biển qua hàng ngàn năm đã tạo nên bờ đá kiểu răng cưa, các vách đá lởm chởm, các tháp đá, khối đá có kích thước khác nhau và nhiều màu sắc như trắng, hồng, nâu. Đặc biệt, quá trình phong hóa cùng với sự tác động xô đẩy liên tục của sóng biển đã hình thành bãi cuội nhẵn thín giống như bãi trứng của loài khủng long.

Từ gành Đá Đĩa nhìn ra biển về hướng Đông – Nam ta sẽ thấy một hòn đảo nhỏ, đó là Cù lao Mái Nhà. Đảo có diện tích khoảng 1,2km2. Phía Đông – Bắc còn nguyên sơ với những dãy núi đá cao, nước biển xanh trong và rừng cây tầng thấp xen những bãi đá chạy ven bờ. Trên đảo chỉ có 2 gia đình sinh sống nên du khách thường gọi là đảo Robinson. Phía Tây – Nam đảo có gành đá nhấp nhô chạy dài nối những bãi cát trắng tạo cảnh đẹp kỳ thú.

Tuy An còn có 2 di sản văn hóa độc đáo có niên đại khoảng 2.500 năm, đó là bộ đàn đá được phát hiện vào tháng 6 năm 1990 tại Núi Một thuộc xã An Nghiệp, bộ đàn đá gồm 8 thanh đá có dấu vết ghè đẽo, chiều dài các thanh đá không đều nhau. Theo các chuyên gia, đây là bộ đàn đá có thang âm hoàn chỉnh nhất. Đặc biệt, vào 2 năm 1993 và 1994, tại thôn Phú Cần, xã An Thọ, huyện Tuy An, người dân đã phát hiện được 2 di vật đá hình con cóc bên trong có khoảng rỗng, được đục lỗ để thổi, các chuyên gia cho rằng đây là một cặp kèn “đực” và “cái”, kèn “cái” nặng 75kg, có âm thanh cao và vang hơn kèn “đực”, kèn “đực” phát ra âm trầm, nặng 34,5kg. Theo kết quả nghiên cứu và công bố của Hội đồng khoa học quốc gia thì cho đến nay, cặp kèn đá này là loại nhạc khí cổ duy nhất được tìm ra trên thế giới.

Rời gành Đá Đĩa, tiếp tục theo Quốc lộ 1A đi về hướng Nam, đến ga Chí Thạnh sẽ xuất hiện một vùng trời nước mênh mông, đó là đầm Ô Loan, một thắng cảnh cấp quốc gia của nước ta. Đầm Ô Loan là một đầm nước lợ nằm dưới chân đèo Quán Cau. Đầm rộng khoảng 1.200ha với độ sâu trung bình từ 1,5m đến 2m. Bao bọc quanh đầm là núi Đồng Cháy, núi Cẩm và cồn An Hải. Từ trên đèo Quán Cau nhìn xuống, đầm nước trông như một con chim phượng xòe cánh, chắc hẳn vì thế mà có tên Ô Loan. Trong đầm có nhiều loại hải sản quý như cá músò huyết, hàu, cua, ghẹ… Trong khu vực này quán xá mọc lên khá nhiều để phục vụ các món hải sản tươi ngon cho du khách.

Gành Đá Đĩa

Dọc Quốc lộ 1A đi về phía Nam, đến cầu Đà Rằng, cây cầu dài nhất ở miền Trung, ta sẽ thấy ngọn Bảo Sơn (còn gọi là núi Nhạn) ở phía Đông thị xã Tuy Hòa. Tương truyền ngày xưa loài chim nhạn trú ngụ rất nhiều trên núi, từ đó mà có tên núi Nhạn. Theo con đường quanh co dẫn lên đỉnh núi Nhạn, trên độ cao 64m, ta có thể nhìn bao quát toàn cảnh thành phố Tuy Hòa, từ biển Tuy Hòa xanh biếc vào làng hoa Bình Ngọc, đến 2 chiếc cầu song song bắc qua sông Đà Rằng (vùng hạ lưu của sông Ba), vào tận núi Đá Bia trong dãy núi Đại Lãnh giáp giới với tỉnh Khánh Hòa…

Trên đỉnh núi Nhạn sừng sững một ngôi tháp Chăm mà nhân dân địa phương gọi là tháp Nhạn, đây là di tích kiến trúc Chăm nguyên vẹn nhất còn lại ở tỉnh Phú Yên. Tháp cao khoảng 20m, bình đồ hình vuông, mỗi cạnh dài 11m, cửa chính mở về hướng Đông, ba mặt tường còn lại có các cửa giả, vòm các cửa giả hình lá đề trang trí hoa lá cách điệu và đầu Makara. Tường tháp không có hoa văn trang trí, chỉ có các trụ ốp tường chạy thẳng lên diềm mái, đường diềm bằng gạch xây giật cấp tạo thành hình tầng sen cách điệu. Trên diềm mái ở 4 góc vươn lên 4 tháp góc nhỏ bằng gạch. Mái tháp có 3 tầng, tầng trên là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới. Trên đỉnh là một chóp tháp bằng sa thạch hình búp sen. Theo các nhà nghiên cứu, tháp Nhạn được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XI đầu thế kỷ XII, thuộc phong cách chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định.

Tháp Nhạn có liên quan đến tín ngưỡng thờ nữ thần Pô Naga, tương truyền khi giáng trần, trước khi vào Nha Trang, bà đã ghé Tuy Hòa để khai thông cửa sông Đà Rằng và độ trì cho nhân dân trong vùng được bình yên. Theo các vị bô lão trong vùng cho biết, vào khoảng thời Hậu Lê, nhân dân ở đây xây một ngôi miếu nhỏ phía trước tháp để thờ bà Thượng Đỉnh Chúa Thiết A Na Diễn Ngọc Phi. Ngôi miếu xưa đã bị sụp đổ trong chiến tranh. Sau này miếu được xây dựng lại trên nền cũ, phía trước có đề bốn chữ “Thượng Đỉnh Linh Miếu”.

Ở xứ sở hoa vàng trên cỏ xanh, chúng ta không thể bỏ qua món ăn độc đáo: mắt cá ngừ đại dương hầm thuốc bắc. Cá ngừ đại dương có đôi mắt khá lớn, tương đương một quả banh tenis. Người ta lấy mắt cá ngừ cho vào một hũ đất nung nhỏ, thêm một số loại thuốc bắc như táo tàu, kỷ tử, thục linh, sa sâm… cùng với các loại gia vị gừng, tiêu, ớt, bột nêm…, rồi đặt lên bếp lửa nấu chín. Mắt cá ngừ có vị ngọt béo nhưng không ngậy, được ăn cùng các loại rau tía tô, cải cay… xắt ghém, có người thích cho thêm đậu phộng rang và ăn cùng bánh tráng nướng.

Buổi sáng ở Phú Yên, ngoài những món quen thuộc như bún, phở, bánh mì…, còn có một món ăn có thể “no trên trưa”, đó là bánh hỏi cháo lòng. Bánh hỏi và cháo lòng thì đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nơi, nhưng kết hợp bánh hỏi với cháo lòng thì chỉ xuất hiện cách nay khoảng 10 – 15 năm, ban đầu ở Bình Định, sau truyền sang Phú Yên. Bánh hỏi được thoa một lớp dầu phụng, thêm chút lá hẹ. Đĩa lòng heo thơm phức cùng tô cháo huyết nóng hổi dọn kèm rau sống chuối chát, nước chấm là loại nước mắm gừng ngọt chua. Kẹp một miếng bánh hỏi với lòng heo và rau sống chấm vào nước mắm gừng thì đủ cả các vị béo, bùi, ngọt, cay, chua trong miệng, cháo lòng sẽ được tiếp tục sau một miếng bánh hỏi lòng heo.

Từ thành phố Tuy Hòa đi theo hướng Đông – Nam khoảng 35km đến địa phận xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa là tới mũi Đại Lãnh – còn gọi là mũi Điện bởi ở đây có một ngọn hải đăng. Ngọn hải đăng được người Pháp xây dựng từ năm 1890. Tháp hải đăng là một khối hình trụ tròn nhỏ dần về phía trên, tháp cao 26,5m so với nền tòa nhà và cao 110m so với mực nước biển. Người ta cho biết ánh đèn từ ngọn hải đăng này có thể rọi xa đến 27 hải lý. Dưới chân mũi Điện là bãi Môn, bãi biển hình cánh cung còn nguyên sơ với cát trắng ngà và nước xanh trong vắt. Nhiều người cho rằng mũi Điện là một trong những nơi đón ánh bình minh đầu tiên trên đất liền của nước ta.

Đến cực Nam của Phú Yên, vượt đèo Cả, trước khi vào địa phận tỉnh Khánh Hòa, ta sẽ gặp Vịnh Vũng Rô. Khu vực này là ranh giới tự nhiên trên biển giữa Phú Yên và Khánh Hòa. Với diện tích 16,4km2, Vũng Rô được che chắn bởi 3 dãy núi cao là Đèo Cả, Đá Bia và Hòn Bà ở 3 hướng Bắc, Đông và Tây nhờ vậy vịnh có nước sâu và lặng sóng. Vũng Rô không chỉ là thắng cảnh của Phú Yên, nơi đây còn là di tích lịch sử cấp Quốc gia, trong kháng chiến chống Mỹ, đây là địa điểm bí mật tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc được các chuyến tàu Không số vận chuyển vào chiến trường Nam Trung bộ…

T.H