Người Nước Mặn xưa, đôi nét chấm phá

Trong quá trình Nam tiến, sống trong một hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội mới, ở người Việt đã nảy sinh những phẩm chất mới giúp họ tồn tại và phát triển. Những phẩm chất này thể hiện trong con người Nước Mặn1 một thời vang bóng.

Thực hành nghi thức rước sắc tại Lễ hội Đô thị Nước Mặn

Tôn giáo, tín ngưỡng với tính cứu cánh tinh thần của nó là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Nước Mặn. Nho, Phật, Lão định hướng con người tu hạnh, tu tâm và tu đức vẫn là những yếu tố tinh thần truyền thống nhưng ở người Nước Mặn thuở phồn thịnh từ đầu thế kỷ XVII, sau gần hai thế kỷ sinh sống nơi đây, tinh thần bao dung, tự do và tôn trọng sự khác biệt tôn giáo, tín ngưỡng đã hình thành như một nét phẩm chất mới trong quá trình nam tiến. Chùa Bà, tồn tại từ khoảng đầu thế kỷ XVII đến giờ, vừa thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Chúa Thai Sinh – Bảo sản theo tín ngưỡng của người Hoa, vừa thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng của người Việt. Nhờ chính sách mở cửa đối với đạo Công giáo mà tại Nước Mặn, các cha Dòng tên người Bồ Đào Nha và Ý được phép xây dựng một nhà thờ (vẫn còn dấu tích đến nay và là nơi các giáo sĩ sống truyền đạo và tiến hành phiên âm chữ Quốc ngữ) và được tự do truyền đạo. Chỉ trong 3 năm, 172 người Nước Mặn đã chịu phép rửa tội, một cộng đồng tôn giáo mới đã hình thành ở đây và Công giáo đã trở thành quen thuộc đối với giới bình dân.

Theo linh mục Nguyễn Hồng (trong Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam), nhiều cuộc tranh luận, giảng thuyết về tôn giáo với giới quan lại, nho gia và thầy sư, sãi đã được tổ chức ở tư gia hay chốn đình trung. Sau khi đã có nhiều người theo đạo Thiên chúa, chứng tỏ tầm ảnh hưởng ngày một gia tăng của Công giáo, tại Nước Mặn đã xảy ra một cuộc tranh luận tôn giáo khá quy mô. Cuộc tranh luận đặc sắc trước công chúng này diễn ra giữa thầy Tư Bình, một đạo sư nổi tiếng có hàng trăm môn đệ, và Buzomi (một giáo sĩ người Ý, đang sống và truyền đạo tại đây). “Ngày giờ và nơi gặp mặt đã được ổn định, thầy đem theo 200 đệ tử, kèn trống đón rước linh đình, còn cha Buzomi đơn sơ trong bộ áo tu hành nghèo nàn, không có người đưa đón. Số người dự thính rất đông, các quan chức, kỳ hào, thầy sư, thầy sãi đủ cả”., Cristophoro Borri viết trong Sách Xứ Đàng Trong 1621 .Tranh luận tôn giáo công khai như thế, hiện tượng ít gặp dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, việc chấp nhận và theo tôn giáo mới, thể hiện tinh thần tôn trọng tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng của người Nước Mặn thuở ấy.

Tinh thần này không chỉ có riêng một phía người Nước Mặn. Cristophoro Borri, cũng trong tác phẩm nêu trên, bày tỏ sự tôn trọng và ngưỡng mộ đối với tôn giáo truyền thống người Việt. Ông xem Thích ca như một triết gia và nhà siêu hình học trứ danh. “Vị này còn có trước Aristote và không thua kém ông về tài trí và tinh thông các sự tự nhiên”. Ông đánh giá cao Khổng Tử như một tác giả uyên thâm, giáo lý sâu sắc và có uy tín ở phương Đông như Aristote ở phương Tây. Ông viết “Thực ra ông (Khổng Tử) kỳ cựu hơn. Sách của ông chứa đầy lý lẽ bác học, nhiều chuyện lạ, nhiều châm ngôn sâu sắc,  nhiều tục ngữ và nhiều sự tương tự, tất cả đều bàn về thuần phong mỹ tục, như chúng ta có Seneca, Caton và Ciceron”.

Sự bao dung, tự do và tôn trọng sự khác biệt tôn giáo, tín ngưỡng của người Nước Mặn là một yếu tố quan trọng ổn định xã hội, đảm bảo cho sự giao lưu, tiếp biến văn hóa, làm giàu văn hóa bản địa và sự phát triển và phồn thịnh của cảng thị Nước Mặn xưa vì chúng ta đã biết mâu thuẫn, bài xích tôn giáo, tín ngưỡng dẫn đến hậu quả xã hội như thế nào.

Thuở phồn thịnh đầu thế kỷ XVII, đô thị Nước Mặn có những dãy phố chuyên bán một loại hàng hóa như vàng bạc và đồ trang sức, phố tiệm thuốc bắc, phố hàng mã, hàng pháo, hàng nhang đèn, hàng tơ lụa gấm vóc, hàng đồ gốm, hàng mỹ nghệ, hàng đồ đồng, hàng đồ gỗ, hàng sách chữ Hán, đồ thờ cúng. Sầm uất nhất là khu phố chợ. Chợ Nước Mặn họp hàng ngày nhưng tấp nập nhất là vào những ngày chợ phiên. Tới ngày chợ phiên, tàu thuyền đậu kín bến, voi chở lâm sản từ miền thượng về, ngựa thồ hàng từ các thị trấn, thị tứ trong vùng tới. Người trong nước, ngoài nước đủ màu da, nhiều tiếng nói đi lại nhộn nhịp trên đường phố. Hàng hóa Đông – Tây đủ màu, đủ kiểu bày trong các cửa hiệu, ngoài quán chợ. Lúc ấy, Nước Mặn trở thành một biểu tượng đẹp về đời sống phồn hoa đô hội của phủ Quy Nhơn xưa và của cả xứ Đàng Trong. Sự phồn thịnh của văn hóa vật chất chắc hẳn phải kèm theo đó là sự “phồn thịnh về tinh thần”. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều chi tiết như các cuộc tranh luận về thiên văn học, sự hợp tác giữa văn nhân, người giỏi chữ Nôm với các thừa sai, giáo sĩ trong việc phiên âm, chú nghĩa chữ Quốc ngữ trong giai đoạn phôi thai; việc cùng chấp nhận và thưởng thức, tham dự xuất hiện các trò chơi dân gian đánh đu, kéo co, đấu võ, đấu vật, chơi cù, chọi gà, bắt vịt, nấu cơm thi, bịt mắt bắt dê, thả thơ, xổ cổ nhơn, hô bài chòi, đánh cờ người…của người Việt; các trò chơi đốt cây bông, đổ giàn có nguồn gốc từ người Hoa và còn có trò chơi chịu ảnh hưởng của các thầy cúng người Chăm như hát mộc xà leo trong những ngày hội chùa Bà… cho thấy sự phồn thịnh về mặt tinh thần ấy. Sự tự do tư tưởng, sự phóng khoáng trong phong cách, sự bao dung văn hóa của con người nơi đây cho phép sự tiếp biến, chọn lọc, hình thành các giá trị văn hóa mới; nó là cơ sở của sự tôn trọng những khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, ứng xử, lối sống của một cộng đồng đa dạng về “quốc tịch văn hóa” nơi đây.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân trong tác phẩm “Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền”, người Nước Mặn biết giữ phẩm giá của mình và quý trọng người trong giao tiếp, chân thành, nhân hậu, trọng nghĩa tình trong xử thế, thương yêu, đùm bọc nhau trong hoạn nạn. Người Nước Mặn tôn kính bậc cao tuổi hơn những người chức trọng, quyền cao. Cristophoro Borris đã mô tả lại nét tính cách đặc biệt này: “Có mấy lần viên quan lớn đến thăm chúng tôi, mặc dầu đã được người thông dịch cho họ biết là có một cha có tuổi hơn cả, nhưng không phải là bề trên, nhưng không thể nào ngăn cản họ chào người có tuổi đó trước hết, sau mới chào bề trên là người trẻ tuổi hơn.” Người Nước Mặn không kỳ thị dân tộc, sẵn lòng cứu giúp người nước ngoài bị đắm tàu; họ cởi mở, lịch thiệp, rộng lượng, tạo điều kiện cho người phương xa tới sống hòa hợp với mình. Giáo sĩ từng đến sống, truyền đạo nơi đây Cristophoro Borris đã ca ngợi một trong những nét nhân cách tốt đẹp của người Nước Mặn trong tác phẩm Xứ Đàng Trong năm 1621 của ông: “Từ tính tình rất trọng khách và cách ăn ở giản dị đó mà họ rất đoàn kết với nhau, rất hiểu biết nhau, đối xử với nhau rất thành thật, rất trong sáng như thể tất cả đều là anh em với nhau, cùng ăn uống và cùng sống vui trong một nhà, mặc dầu trước đó họ chưa bao giờ thấy nhau, biết nhau. Họ cho là một nết rất xấu nếu ai ăn món gì dù rất nhỏ mọn mà không chia xẻ cho bạn, bẻ cho mỗi người một miếng”. Ông viết trong tác phẩm này về cái tính dễ động lòng trắc ẩn và quảng đại của người Nước Mặn, kể cả với người nước ngoài: Một thương gia người Bồ tới một chiếc ghe của một đánh cá nghèo và thò tay vào một chiếc giỏ lớn đầy cá và nói với người đánh cá bằng ngôn ngữ của họ: sin moca (xin một cái?). Người đánh cá chẳng nói chẳng rằng đưa ngay cho anh ta giỏ cá để anh ta mang đi. Thương gia người Bồ này đã mang giỏ cá về nhà, ngạc nhiên về sự rộng rãi của người đánh cá nghèo.

Người dân đi lễ chùa Bà tại Lễ hội Đô thị Nước Mặn

Tuy những mô tả đầy đủ về con người và tính cách của người Nước Mặn là không thể nhưng những nét cơ bản về tính cách, phẩm chất con người ở đây (và có lẽ ở Hội An cũng như ở những địa phương khác dọc theo con đường Nam tiến) như đã mô tả ở trên chắc chắn được hình thành trong một quá trình dài. Trong quá trình nam tiến, người Việt sống trong môi trường tự nhiên có nhiều điểm khác biệt, sự phát triển thương mại với nước ngoài và giao lưu văn hóa từ hoạt động này, một cộng đồng xã hội chung sống gồm người Việt, Chăm, Hoa, kể cả người nước ngoài (nhưng số lượng ít) và kèm với đó là quá trình tiếp biến văn hóa là những yếu tố góp phần làm thay đổi tâm lý người Việt. Rất đáng lưu ý là, theo Li Tana2, người Việt trong quá trình Nam tiến dần thoát khỏi cái làng chật hẹp vùng sông Hồng và Thanh Hóa chật hẹp, gò bó con người với địa vị xã hội hoàn toàn cố định. Theo tác giả này, tại các vùng đất mới, đặc biệt là từ Quảng Nam trở xuống đất đai tương đối nhiều nên di chuyển trở thành bình thường đối với các gia đình, dòng họ hay cả làng người Việt. Và như thế, quan hệ với đất đai khó có thể là quan hệ khăng khít cố định. Hơn nữa, ngôi làng mới được lập bởi những người thuộc giai tầng thấp và những người khai hoang này ít bị ràng buộc bởi những gò bó của một địa vị xã hội cao và những quy định trong cách ứng xử của xã hội cũ, nên (họ) được tự do phát huy sáng kiến, một đặc điểm thiết yếu của việc thích nghi đầy hiệu quả khi họ liên tục tiến về phía Nam. Ngoài ra, nhằm bảo vệ tính chính danh và tạo ra một bản sắc riêng đối nghịch với đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đề cao phật giáo Đại thừa và “lãng quên” Nho giáo. Đàng Trong với những điều kiện thư thế “là thế giới rộng lớn hơn cho người ta một ý thức lớn hơn về tự do – tự do lựa chọn nơi họ ưa thích và cách sống họ muốn” Sự tự do tư tưởng trong nhận thức, cái phóng khoáng, tự tin trong giao tiếp, sự rộng lượng, bao dung trong tiếp biến các giá trị văn hóa mới có nguồn gốc như vậy. Nó không chỉ biểu hiện ở người Nước Mặn một thời mà còn là một đặc điểm chung “định vị” sự biến đổi tâm lý  người Việt trong cả quá trình Nam tiến cũng như đến mãi sau này.

N.H.S

(1) Người Nước Mặn: Những cư dân Việt sống ở cảng thị Nước Mặn (thôn An Hòa, Phước Quang, Tuy Phước, Bình Định ngày nay). Cảng thị này phồn thịnh từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII nhờ chính sách “mở cửa” giao thương với thương nhân nước ngoài của các chúa Nguyễn. Hằng năm tại đây diễn ra hội chùa Bà vào các ngày từ 29 tháng Giêng đến mùng 2 tháng Hai Âm lịch từ xa xưa đến giờ.

(2) Li Tana, Xứ đàng Trong: Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, tr 226