KÝ SỰ SÔNG LAM Kỳ 3: Ký ức Phủ Tương

Bản Cửa Rào, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An là vùng lòng chảo nằm tại khu vực đầu nguồn sông Lam – điểm hợp lưu của hai con sông Nậm Nơn và Nậm Mộ bắt nguồn từ đất Lào. Khi chảy về Việt Nam đến địa phận này hai dòng Nậm Nơn và Nậm Mộ hợp lại thành con sông Cả hay sông Lam ngày nay. Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước qua các triều đại, đây là một trong những vị trí quan trọng, ghi dấu chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với quá trình dựng nước và bảo vệ bờ cõi của dân tộc. Trong ký ức của những người già,  sự giao thương giữa miền ngược và miền xuôi ở đây, từ xưa đã rất phát triển và phồn thịnh.

Dấu vết Phủ Tương – Ảnh. Trương Vũ Quỳnh

Lang thang Phủ Tương, chúng tôi tình cờ gặp được hai nhân vật rất đặc biệt. Một người là con út quan tri huyện, em vợ quan tri phủ cuối cùng của Phủ Tương và là người đính ước với Hoàng tử Bảo Long, con vua Bảo Đại. Bà Lang Thị Xuân năm nay đã gần 90 tuổi, tưởng như ở cái tuổi này mọi việc đã chôn sâu trong quá khứ, vậy mà chỉ nhắc đến Phủ Tương Dương, bà như sống lại với ký ức tuổi thơ của mình cách đây hơn 70 năm. Khi được chuyện trò, bà bộc bạch:  “Ông quan phủ Lang Vi Năng  lấy chị đầu của tôi. Năm đầu tiên ông bảo là  vua Bảo Đại sẽ về đây, chờ mãi không thấy. Năm thứ hai chính vua Bảo Đại về thật, không biết năm mô tôi cũng không nhớ. Năm đó tôi 13 tuổi, người đẹp, vua Bảo Đại nói chờ đấy để cưới Bảo Long… Nhưng rồi năm 1945 cướp chính quyền mọi chuyện không thành”.

Khác với bà Xuân là con quan dân bản địa, người còn lại là một phụ nữ nghèo, có “lai lịch” là bị bán từ thành Vinh lên đây năm 1945. Việc mua bán này, theo lời kể, đó là cách để cứu sống bà trước nạn đói lịch sử của dân tộc. Bà Trần Thị Lan lại là dân ở thành Vinh được bán lên đây năm 1945. Bà kể, để tránh nạn đói, cha mẹ bà Lan đã bán bà lên đây lúc bà mới 4 tuổi. Từ đó đến nay bà trở thành dân “Phủ Tương” mà không biết cha mẹ mình là ai. Chậm rãi, bà Lan nhắc nhớ buồn: “Khoảng năm 40-45 là đói, ba năm liên tục mất mùa, cha mẹ mới bán lên đây. Bán đi để cho mình sống chứ còn ở nhà có gì ăn đâu. Ở dưới xuôi không có lúa có gạo để nuôi con cho mình, nếu có điều kiện sau này mới tìm lại. Người chết đói đầy đường ấy mà. Cha mẹ bán tôi  lên đến bến đò này khi còn phải cõng, bây giờ có biết cha biết mẹ đâu mà tìm…”.

Để hiểu hơn về chuyện bán con lên miền núi ở Nghệ An những năm 1945 trong nạn đói lịch sử của dân tộc, ông Vi Tố Định, nguyên Phó chỉ huy trưởng Biên Phòng tỉnh Nghệ An cung cấp cho chúng tôi một đoạn tư liệu. Đoạn tư liệu dài ghi chép rất chi tiết việc bán con cái, trong đó có trích đoạn:

“Đêm đông giá lạnh, cây xoan đâu rụng hết lá trơ lại những cành, những đám hành bị cháy, những vườn cà chua bị lụi do sương muối gây nên, cảnh vật im lìm… cuộc hành trình bắt đầu, cha mẹ con bồng bế nhau đi, lên đến chợ Rạng thì chợ đã đông người. Chợ năm nay khác với chợ năm xưa, chợ bán hàng hóa, lương thực thì ít, mà bán đồ thờ như giá gương linh tọa thì nhiều, quần áo cũ, mâm thau nồi đồng, bát đĩa nơi nào cũng có. Đặc biệt món hàng bán con. Một bà mẹ gầy còm hốc hác trạc 25 tuổi ăn mặc rách rưới, bồng một cháu gái đến hỏi tôi:

– Anh ơi, anh có mua đứa cháu này không?, Vợ chồng tôi ở Phúc Long có hai đứa con, chồng tôi bị ốm không cơm không thuốc, nhà tôi chỉ ăn rau má rau khoai. Nay đưa cháu này bán được ít tiền đưa về mua thuốc và gạo cứu lấy cha nó đang hấp hối..

Tôi trả lời chị một cách thương xót:

– Hoàn cảnh của chị cũng như hoàn cảnh của tôi không hơn không kém.

Một chị khác cũng con bồng con bế đem bán hoặc đem cho…”

Năm 1938, vua Bảo Đại khi đó đến Tương Dương vi hành cùng quan phủ Lang Vi Năng, ông đã dừng lại ở đền Vạn, Cửa Rào, và cũng chính thời gian này, đền Vạn được tu sửa trở thành ngôi đền khang trang, khác với trước chỉ là ngôi miếu nhỏ do dân vạn chài lập nên. Dấu tích còn lại chính là bức ảnh chụp năm 1938 về một cây cầu bắc từ bờ sang đền Vạn cho vua sang hành lễ.

Vùng đất Phủ Tương nhìn từ trên cao – Ảnh. Trương Vũ Quỳnh

Đền Vạn Cửa Rào, nơi thờ danh tướng Trần Đoàn Nhữ Hài, người có công lớn trong đánh đuổi ngoại xâm, giữ yên bờ cõi và giúp nhân dân miền Tây Nghệ An ổn định cuộc sống. Nằm ở ngay ngã ba nơi hai dòng sông nhập lại, thời phong kiến, khu vực đền Vạn, Cửa Rào có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc mở mang bờ cõi bảo vệ biên thùy. Thời Lý, với chiến thắng của Lý Nhật Quang trước quân Ai Lao, một con đường đến sát biên giới Việt – Lào, tiền thân của con đường 7 ngày nay đã được mở ra, đã làm cho vùng đất vốn trước đây đã trù phú thì nay lại càng đông đúc hơn. Dưới các triều đại Phong kiến thì vùng đất Đền Vạn, Cửa Rào là nơi sầm uất, trên bến dưới thuyền mà trung tâm của nó chính là Phủ Tương Dương.

Phủ Tương nay chỉ còn lại cánh cổng, dấu ấn thời gian gần như đã xóa nhòa dấu tích của một thời phồn hoa trên bến dưới thuyền nơi miền núi Nghệ An. Tuy nhiên dấu tích này vẫn gợi nhớ cho người dân ở đây một phần lịch sử hình thành vùng đất và con người Tương Dương.

Dừng lại trước cổng Phủ Tương, bà Lan nhớ lại: “Lên phủ vào phủ là đi dọc theo đây,  nhà thưa thớt thôi, toàn nhà tranh thưa thớt ở ven sông, nhà cách nhà từng đoạn nhưng mà rất vui. Ở đây là đoạn người Việt, lên trên đó đoạn Hoa kiều, Hoa kiều ở rải rác nhưng mà đẹp lắm, ở phồn vinh lắm. Ở phủ mình cũng có lính tráng, có người làm thuê làm mướn sang ở đây cả, làm ăn người thì đi mua thịt mua cá, đông đúc lắm. Cái này khi xưa đẹp lắm đấy. Kia là bến đò. Hồi xưa bên kia là Nậm Mộ, bên này là Nậm Nơn. Nậm Mộ chảy từ sông Mê Kông về đến đó là cụt đường gọi là sông cụt. Sông bên này từ ở bên Xiềng Tắm của Lào, về đây gọi là sông Lam…”

Sau khi trò chuyện ở bến đò cổng phủ Tương, theo chân hai bà chúng tôi đến thăm bà Đào Ngọc Quỳnh – một trí thức cách mạng và là người hiểu biết về văn hóa vùng đất này. Khẳng định Phủ Tương một thời là trung tâm hành chính thời chống Pháp và chống Mỹ của huyện Tương Dương ngày nay, bà Quỳnh tâm sự: ” Khi đó, vào năm 1945 tôi đã lên đây làm việc, là Hội trưởng hội phụ nữ. Đi học tiếng Pháp từ nhỏ, học đến tú tài tức bậc Dip Lôm. Cha mẹ tôi thì không được học  nhưng mà các anh chị đều được học cả…Thời đó, phủ Tương này là trung tâm của cả vùng, mọi thứ đều diễn ra ở đây” .

Bà Đào Ngọc Quỳnh là một trong nhưng người đại diện cho tầng lớp trí thức cách mạng sau 1945 ở Tương Dương. Gần 90 tuổi trí nhớ của bà không còn được minh mẫn nhưng ký ức về một thời hoạt động sôi nổi chống giặc ngoại xâm và thời đầu kháng chiến thì bà không thể quên. Gần 50 năm hoạt động cách mạng, bà chỉ mong sau ngày giải phóng đất nước quê hương bà được đón Bác Hồ lên thăm, đến giờ, như bà nói mong ước đó, chỉ còn lại là mấy vần thơ. Miệng nhón trầu, bà đọc vanh vách:

“…Bác Hồ chưa đến làng em

Chưa đi Vực Đáy chưa xem đồng Chùa

Lúa đất đồng được mùa bát ngát

Đất Phó vạn trấn nước phi cao

Lời thơ Bác dặn đồng bào

Nghe sao mát ruột đọc sao ấm lòng

Bác chưa về những ngóng trông

Còn mong còn ngóng trông sao bác về

Để em hái một nậm chè

Để anh sửa lại bờ tre ngõ vào

Sân đình mời Bác đứng cao

Để cho làng xóm đồng bào ngó vô

Bấy năm theo lệnh Bác Hồ

Cả làng cả xóm thi đua tưng bừng

Bác bày bác vẽ cho dân

Làng em bên mở đồi hoang cày bừa

Đường đi mới bắc lên cao

Qua sông mới bắc nhịp cầu thênh thênh…

Ba người phụ nữ, mỗi người mỗi số phận – cuộc đời, cuộc trò chuyện chóng vánh trong buổi chiều cuối thu làm hiện ra những góc khuất khác nhau của một phủ Tương trong quá khứ. Ở đâu cũng thế, ký ức lặn sâu vào trí nhớ mỗi người, những ghi chép như thế này cần thiết bao nhiêu trên những con đường mà chúng ta sẽ đi qua dọc dài hành trình làm báo để hiểu và yêu hơn nước Việt của mình …

T.V.Q