Ký sự Sông Lam Kỳ 2: DƯỚI BÓNG RỪNG SĂNG LẺ

Bản Kim Hồng, vùng lòng hồ thủy điện Bản Vẽ, huyện Tương Dương, Nghệ An. Chúng tôi quyết định dừng lại khi nghe bên đường tiếng hát của một cụ già ru cháu bên chiếc võng tre: “Ngủ ngoan nhé em ơi, đừng khóc…ừ…ư. Mẹ đi rẫy, đi nương dưới chân núi đá, mẹ đi làm ruộng dưới chân bản, em ngoan ngủ đi nhé. Khi nào mặt trời lặn dưới cánh rừng săng lẻ mẹ mới về với con”. Cánh rừng săng lẻ trong câu hát ru của cụ bà Lô Thị Tuyết nằm ngay phía sau bản Kim Hồng. Cây săng lẻ sống trong rừng thì thân cao thẳng vượt lên trên đón ánh mặt trời, bốn mùa thay lá đơm hoa rực rỡ. Người ta đã đem loài cây này trồng ở đường phố đô thị, nhưng không hiểu sao cây rất khó trổ hoa. Người Thái có câu: “Sống rừng nuôi, chết rừng chôn”. Bà Tuyết chưa từng tưởng tượng rằng có một buổi chiều hoàng hôn nào, bà không còn nhìn thấy mặt trời lặn dần đi sau rừng săng lẻ đó.

Vẻ đẹp đại ngàn của bản Kim Hồng

9 năm trước…

Dự án thủy điện Bản Vẽ trên một nhánh sông Lam được phê duyệt. Rồi tiếp theo đó, chỉ một huyện Tương Dương ở miền núi phía Tây Nghệ An đã có 6 dự án thủy điện chặn hết cả suối sông. Năm 2008, dân bản Kim Hồng được di dời đến huyện Thanh Chương cách đó 200 cây số, gần với phố thị và điều kiện điện đường trường trạm tốt hơn. Sống được 2 năm, một nửa số gia đình trong bản lục tục quay về nơi ở cũ. Trong căn nhà nhỏ nơi đầu bản Kim Hồng, ông Lô Văn Quyết tâm sự về hành trình ngược dòng này: “Tôi cũng chấp hành chủ trương của Đảng và Nhà nước đi theo cộng đồng tái định cư ở Thanh Chương “đi nơi mới hơn nơi cũ”. Thế nhưng xuống đến Thanh Chương mới thấy là không có nước sinh hoạt, không có đất sản xuất. Dân đi trước lấn chiếm đất của Kim Hồng trồng keo trồng sắn chúng tôi xuống lại không có nữa. Khi mô họ thu dọn keo sắn họ trả đất cho thì chúng tôi mới có đất, cảm thấy vất vả khó khăn như vậy nên chúng tôi lại quay về quê cũ làm ăn sinh sống. Giờ chúng tôi trồng trọt, chăn nuôi trâu bò lợn gà… mỗi hộ tính bình quân 5-10 con trâu hoặc bò là thấy cuộc sống ổn định rồi. Nguyện vọng chúng tôi ở đây, không xuống Thanh Chương nữa…”. Lô Văn Mun, con trai ông Lô Văn Quyết từ khi lớn lên đã quen bắt cá dưới suối kiếm cái ăn cho cả gia đình, giống như tổ tiên của anh trăm năm trước đã làm. Đời cha rồi đến đời con, họ đã sinh ra lớn lên dưới bóng rừng săng lẻ. Sống ở đây, tiền nhiều hay không không còn quan trọng. Lô Văn Mun tâm sự: “Cuộc sống đây thoải mái hơn Thanh Chương, có nước sinh hoạt. Nước đây tha hồ mà tắm, làm ăn muốn kiếm cá cũng có, kiếm măng cũng có. Dưới Thanh Chương họ đưa thịt vào thì cũng phải có tiền mới mua, không có tiền phải nhịn, ở đây không có tiền cũng sống được…”.

Lương Văn Thân là bạn bè cùng thế hệ Lô Văn Mun. Ngày cùng dân bản trở lại lòng hồ, anh đi chọn những quả đồi còn chưa ngập nước để đốt rẫy trồng lúa. Dân trong làng bầu anh – người hiểu biết nhất trong bản làm người đại diện, có thể đối thoại với chính quyền khi cần. Lý lẽ của Lương Văn Thân rất đơn giản: “Ở Thanh Chương bận bịu hơn, khó khăn hơn, kiếm tiền 11-12h đêm mới về, ngày được trăm rưỡi hai trăm làm chi lo được cuộc sống. Thức ăn ở dưới nớ chỉ có mua thôi, đi làm công về là mua 5-6 lạng thịt hoặc nắm rau về ăn. Ở đây thì cá dưới sông, rau tự trồng trên bờ, thiếu tiền nhưng không lo chi hết, tự sản xuất được cả. Ngày ba bữa chẳng lo lắng gì. Ở Thanh Chương, dân không biết làm ăn nên phải cuốn gói lên đây hết. Họ không quen, phong tục tập quán hoàn toàn chênh lệch, mọi người dân cuộc sống xáo trộn cho nên phải quay về nơi ở cũ thôi…”. Với những người già đã suốt đời quen sống với rừng săng lẻ, có những lý do khác nữa khiến họ muốn trở về lòng hồ, đó là nếp ăn ở cộng đồng, nương tựa vào những mối dây mà ngày nay càng trở thành mỏng manh dễ đứt.

Cán bộ đến nhà dân vận động học sinh đi học

Quay trở lại với rừng cũng là quay trở lại với một đời sống cách xa xã hội hiện đại. Dân bản Kim Hồng sống đời sống của tổ tiên, nhưng những đứa trẻ sinh ra cần được tiếp xúc với bên ngoài. Cái tên Kim Hồng đã bị xóa sổ trên bản đồ địa giới, không còn trường lớp, trẻ con phải đi học nhờ ở trường tiểu học của xã bên. Đại diện bản, Lương Văn Thân kể: “Ở đây không có tiền cũng phải kiếm mua xăng dầu mua thuyền chở các cháu đi học, 1 tuần 2 lần. Thứ 2 đầu tuần, 4h30 sáng đưa các cháu lên cho kịp học. Thứ 6 các cháu học xong buổi chiều đưa các cháu xuống nhà, tuần mô cũng thế để đảm bảo không vắng buổi nào các cháu đi học…”.

Chúng tôi đã ngồi một đêm bên bếp lửa nhà sàn để dự cuộc họp quan trọng nhất của cả bản là bàn cách đưa học sinh đến trường thuận lợi và an toàn nhất. Mọi người góp công sức để hỗ trợ người có thuyền lớn đưa con em trong bản đến trường, rồi chung tay dựng lều dựng lán cho các em có chỗ trú tạm hàng tuần. Vất vả, nghèo khổ không sợ. Sợ nhất là con em thất học, thất học thì lớn lên lại vất vả, khổ nghèo, lòng vòng như thế mãi sao chịu được. Đêm tàn dần theo ngọn lửa bập bùng yếu ớt cùng cái se lạnh đầu nguồn. Ngày mai, những đứa trẻ lòng hồ sẽ lên thuyền sang học nhờ ở bản khác. Chúng sẽ đem theo không chỉ gói xôi, lời dặn dò của ông bà cha mẹ, mà còn điều gì đó khác nữa… Lời cầu xin trong buổi lễ cúng của các cụ già đêm nay vẫn còn đọng mãi trong tâm trí chúng tôi, những người khách phương xa: “Ơ bây giờ gia đình có con lợn, làm vía cho các cháu nhỏ trong nhà, kính mời ông bà tổ tiên đến ăn vía. Ơ... con lợn thì không to, nhưng cũng đầy đủ đầu, chân, gan, lòng kính mời ông bà tổ tiên ăn. Ơ…cũng không mong muốn gì nhiều, kính mong ông bà tổ tiên phù hộ cho mọi gia đình, con cháu luôn luôn được mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi, làm nương, làm lúa được mùa đầy kho. Các con các cháu hòa thuận, có sức khỏe, nhanh nhẹn, hoạt bát, chóng lớn bằng ông bằng bà, bằng bố bằng mẹ. Đi học thì có sức khỏe, được thầy yêu, bạn mến, ngày càng tiến bộ, ngày càng học giỏi, được lên lớp. Ơ… xin tổ tiên phù hộ cho các cháu lớn lên như cây săng lẻ cao thẳng giữa rừng…”.

Dân ca Thái hát rằng: “Có rừng, có cây, có hoa quả chín. Chim muông, ong bướm, muôn loài sẽ đến. Nếu không muôn loài ong bướm và chim muông sẽ bỏ đi. Đó là lẽ thường tình tự nhiên thôi”. Người già ở bản Kim Hồng kể rằng trong hai năm sống trong những ngôi nhà bằng xi măng xây sẵn ở khu tái định cư Thanh Chương, đêm đêm nhiều người mơ thấy được ngủ trong ngôi nhà sàn ở bản cũ, mơ thấy được tắm gội giữa dòng nước mát lành chảy xuống từ những suối nguồn dưới gốc rừng săng lẻ. Bị bứt khỏi gốc cội, nhưng như những cây săng lẻ chỉ có thể trổ hoa rực rỡ giữa rừng, người bản Kim Hồng lại quay về với rừng sau những biến động của thời cuộc.

Vào một lúc nào đó ở thì tương lai, có thể hậu thế sẽ đọc được những dòng sau đây trong biên niên sử của bản Kim Hồng: “Mùa xuân năm 2003, bản đã dời đến đất Thanh Chương, để rồi sau đó lại tìm về cố quận, nơi trùng điệp những cánh rừng săng lẻ đã hoài thai các huyền thoại của bản mường. Ở đó, những huyền thoại mới lại được viết tiếp“…

T.V.Q