Kết nối không gian văn hóa Sa Huỳnh vùng Nam – Ngãi để bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch

  1. Đầm An Khê

    Không gian Văn hóa Sa Huỳnh vùng Nam – Ngãi

Sau những phát hiện của các học giả người Pháp vào những năm đầu thế kỷ XX, từ năm 1976 đến nay đã có nhiều cuộc khai quật, đào thám sát hàng chục di tích văn hóa Sa Huỳnh trên đất Quảng Ngãi, cho thấy vùng đất này là không gian đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh. Các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi phân bố rộng khắp, ở vùng hải đảo Lý Sơn có các di tích Xóm Ốc, Suối Chình; ở đồng bằng và cồn cát ven biển có Long Thạnh, Bình Châu I, Bình Châu II, Phú Khương, Thạnh Đức… vùng đồi gò có các điểm di tích Gò Quê, Núi Sứa, Gò Đình, Gò Mới, Gò Kim…; lên vùng trung du miền núi có các di tích Trà Phong, Trà Xuân, Gò Nà, Gò Quánh, Bình An…

Trước năm 1975, hầu như chưa có phát hiện nào về thời Tiền sử ở Quảng Nam. Từ sau năm 1975 cho đến nay, nhiều di tích khảo cổ học đã được phát hiện, đào thám sát và khai quật ở Quảng Nam, từ di tích thời sơ kỳ đá mới đến các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh ở giai doạn sơ kỳ thời đại kim khí. Các di tích tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh ở Quảng Nam phân bố trong một không gian rộng: vùng hải đảo có Cù Lao Chàm với di tích Bãi Ông; vùng cát và đồng bằng ven biển có các địa điểm Bàu Trám, Tam Mỹ, Phú Hòa, Hậu Xá, An Bang, Xuân Lâm, Lai Nghi, Vườn Thoáng…; vùng đồi gò ven sông có Gò Đình, Đồi Vàng, Gò Mùn, gò Mã Vôi, gò Miếu Ông, Gò Cấm, Gò Dừa, gò Tây An, gò Bờ Rang… vùng trung du và thung lũng miền núi có Gò Quảng, Gò Miếu, Tiên Mỹ, Tiên Lãnh, Pa-xua, Quế Lộc, Bình Yên, Thạch Bích, Hố Bà Đằng…

  1. Kết nối Không gian văn hóa Sa Huỳnh vùng Nam – Ngãi

Không phải ngẫu nhiên mà các nhà địa lý đã phân vùng các đồng bằng duyên hải miền Trung Việt Nam thành: Thanh – Nghệ – Tĩnh, Bình – Trị – Thiên, Nam – Ngãi, Bình Phú – Khánh Hòa, Ninh Thuận – Bình Thuận. Các vùng đồng bằng này có liên quan với nhau về địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu… Vùng Nam – Ngãi có đặc điểm chung là dải đồng bằng tương đối hẹp, một số nơi núi vươn ra sát biển; hệ thống sông ngòi khá chằng chịt, dòng sông không dài và độ dốc lớn; ở vùng ven biển có nhiều đầm, hồ nước lớn và những cồn cát trắng chạy dọc bờ biển… Có lẽ chính những đặc điểm tự nhiên đó hình thành nên những nét tương đồng về văn hóa của vùng Nam – Ngãi.

Di vật Sa Huỳnh – Quảng Ngãi

Giai đoạn tiền Sa Huỳnh, các di tích như Bình Châu, Long Thạnh (Quảng Ngãi), Bàu Trám (Quảng Nam) cùng phân bố ở vùng cát ven biển; vùng hải đảo có Bãi Ông – Cù Lao Chàm. Đồ gốm Bình Châu và Long Thạnh được tạo dáng đẹp, trau chuốt gồm các loại hình bình con tiện, bát bồng, nồi… trang trí các loại hoa văn tam giác liên hoàn, hình chữ S giống sóng biển, văn kỷ hà, ấn mép răng cưa, đặc biệt lối trang trí hình đai vú quanh thân bình, hoặc đắp nổi thành đai bao quanh[1]… Có thể nói đồ gốm giai đoạn tiền Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi là những tác phẩm gốm nghệ thuật hoàn mỹ.

Ở Quảng Nam, đồ gốm giai đoạn tiền Sa Huỳnh ở di tích Bàu Trám và Bãi Ông gồm có các loại nồi, vò, bát bồng… được tạo dáng khá đẹp, trang trí các loại hoa văn chữ S, văn in mép vỏ sò, văn thừng… Mặc dù không đẹp bằng gốm Bình Châu và Long Thạnh nhưng gốm Bàu Trám và Bãi Ông cũng thể hiện được nét gần gũi với gốm tiền Sa Huỳnh Quảng Ngãi về hoa văn trang trí.

Giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, đồ gốm ở Quảng Nam và Quảng Ngãi cũng có những nét tương đồng, phổ biến là quan tài gốm hình trứng và hình trụ có kích thước lớn với nắp đậy hình nón cụt; về hoa văn trang trí, có các loại văn thừng, văn khắc vạch…

Những di tích thuộc thời tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh ở Quảng Nam và Quảng Ngãi đều có những nét tương đồng và dị biệt so với những di tích thời đại kim khí ở các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Đông Nam bộ. Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với cư dân các nền văn hóa đồng đại trong khu vực, không chỉ trong phạm vi dải đất hình chữ S mà còn đến những vùng đất xa xôi như Trung Hoa, Ấn Độ,… Mối quan hệ Đông Sơn – Sa Huỳnh đã được các nhà khảo cổ nhìn ra từ thập niên 30 của thế kỷ XX thông qua đối sánh các công cụ, vũ khí bằng đồng thau, trống đồng, đồ trang sức – đặc biệt là khuyên tai hai đầu thú phát hiện được trong các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Đồng Nai và văn hóa Đông Sơn.

Khuyên tai 2 đầu thú

Một số di tích mộ táng Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi như Bình Châu, Long Thạnh, Phú Khương, Thạnh Đức; ở Quảng Nam có Bàu Trám, Tam Giang, Hậu Xá, An Bang… gắn liền với hệ sinh thái cồn  – bàu ven biển, đặc biệt là vùng biển Sa Huỳnh, nơi mà ngày nay có những cánh đồng muối nổi tiếng trong cả nước, Quảng Nam cũng có cánh đồng muối Tam Hòa (thuộc huyện Núi Thành). Ai cũng hiểu là muối rất cần thiết cho đời sống con người, các nhà nghiên cứu cho rằng muối từng là loại hàng hóa quan trọng trong lịch sử loài người, nhiều nơi trên thế giới, vào thời cổ – trung đại, nhà nước nắm quyền kiểm soát muối. Qua các tư liệu có liên quan đến việc hình thành “con đường muối”, con đường giao thương buôn bán từ vùng đồng bằng Nam – Ngãi lên vùng rừng núi Nam Trường Sơn cách nay hàng ngàn năm, có thể biết muối là mặt hàng thiết yếu đối với các cư dân miền núi; cư dân vùng đồng bằng Nam – Ngãi dùng muối và các loại hải sản cùng chiêng, ché, kim loại quý… làm hàng hóa trao đổi lấy các loại lâm sản, thổ sản của miền núi như quế, trầm hương, hồ tiêu… Như vậy chắc hẳn cư dân Sa Huỳnh vùng ven biển đã biết sản xuất muối để sử dụng hằng ngày và dùng làm hàng hóa trao đổi lấy các sản vật của cư dân miền núi.

  1. Bảo tồn và phát huy giá trị Không gian văn hóa Sa Huỳnh vùng Nam – Ngãi

+ Bảo tồn không gian văn hóa

Về Không gian văn hóa Sa Huỳnh, đó không chỉ là nơi phân bố các di tích mà còn cả những mối quan hệ giữa các nền văn hóa trong khu vực, mối quan hệ không gian đồng đại (văn hóa Sa Huỳnh), mối quan hệ không gian lịch đại (từ Sa Huỳnh sang Champa đến Đại Việt) người Việt kế thừa không gian văn hóa Sa Huỳnh – Champa tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, hình thành không gian văn hóa vùng Nam – Ngãi …

Nhìn bao quát vùng Nam – Ngãi, ta có thể kết nối Lý Sơn – Cù Lao Chàm – Hội An – Sa Huỳnh thành một tứ giác, hình thành mối liên kết từ hải đảo đến đồng bằng ven biển: ở vùng hải đảo, các di tích tiền Sa Huỳnh như Xóm Ốc, Sa Huỳnh muộn với Suối Chình ở Lý Sơn; Cù Lao Chàm có di tích tiền Sa Huỳnh ở Bãi Ông. Khu vực đồng bằng ven biển Hội An có các địa điểm, Hậu Xá, An Bang, Thanh Chiếm, đặc biệt là địa điểm Lai Nghi (thuộc huyện Điện Bàn, gần kề các địa điểm An Bang, Hậu Xá); vùng Sa Huỳnh – Quảng Ngãi, nơi khởi phát cho chuỗi di tích thuộc nền văn hóa này có các địa điểm quan trọng như Bình Châu, Long Thạnh, Thạnh Đức, Phú Khương… Tất cả các địa điểm này đều được hoàn thổ sau khi khai quật, di vật trong hố được đưa về các bảo tàng, di tích chỉ còn là một địa điểm với địa danh di tích, các nhà nghiên cứu chỉ có thể hình dung được địa tầng và sự phân bố di vật trong di tích qua hình ảnh và bản vẽ. Trong kế hoạch bảo tồn không gian văn hóa Sa Huỳnh vùng Nam – Ngãi, nếu có điều kiện, nên thực hiện một bảo tàng ngoài trời, các quan tài gốm cùng đồ tùy táng được bảo quản tại chỗ sau khi khai quật, ngoài việc làm mái che cũng cần giải quyết thoát nước, chống ngập úng cho hố khai quật; các di vật được xử lý, bảo quản bằng kỹ thuật hiện đại phù hợp để đảm bảo tồn tại trong thời gian dài, di tích sẽ trở thành một điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Bảo tồn không gian văn hóa Sa Huỳnh, cũng là bảo tồn cảnh quan văn hóa, trải qua mấy ngàn năm, chắc chắn không còn giữ được nguyên vẹn cảnh quan cổ, có nơi “biển xanh đã thành nương dâu”, tuy nhiên những lớp trầm tích văn hóa vẫn còn ẩn trong lòng đất cũng như trong đời sống vật chất và tinh thần của các lớp cư dân đã và đang sinh sống trên vùng đất này; môi trường sống cùng phong tục, tập quán và phương thức lao động sản xuất, xây dựng nhà cửa… bao đời nay đã làm nên cảnh quan văn hóa của một vùng đất. Cư dân cổ Sa Huỳnh sống ở vùng đầm An Khê, vùng đồng muối, vùng cửa sông ven biển đã lưu truyền những kinh nghiệm đánh bắt thủy sản, làm muối, trồng trọt, chăn nuôi… cho các thế hệ cư dân nối tiếp. Ngày nay, người dân vùng Sa Huỳnh – Quảng Ngãi tiếp tục làm muối bằng phương pháp thủ công trên những cánh đồng trắng xóa ven biển, làm nên thương hiệu muối Sa Huỳnh nổi tiếng trong cả nước. Có lẽ, đây là cảnh quan cổ xưa còn được lưu giữ tốt nhất, đặc biệt, khu vực đầm An Khê – đầm nước ngọt rộng trên 347 ha dồi dào thủy sản, từ ngàn xưa đã cung cấp nguồn thực phẩm cho cư dân cổ Sa Huỳnh – chủ nhân các địa điểm gò Ma Vương, Long Thạnh, Phú Khương, Thạnh Đức… Đến nay, đầm An Khê vẫn là nơi mà người dân trong vùng đánh bắt thủy sản bằng những phương tiện ghe, lưới thô sơ.  Làng xóm xung quanh với ruộng đồng, cồn, bàu, đường làng quanh co, mái lá, lũy tre… là những nét nguyên sơ của làng xóm Việt thuở ông cha đi mở đất. Những giá trị đó cần được bảo tồn, không chỉ để lưu giữ truyền thống mà còn vì sự phát triển kinh tế du lịch của địa phương.

Vấn đề cần đặt ra ở đây là bảo tồn văn hóa truyền thống không cản trở sự phát triển. Nếu kinh tế vùng Sa Huỳnh – An Khê phát triển đi lên, tất yếu người dân có nhu cầu hưởng thụ những tiện nghi hiện đại, nhưng phải có sự sắp xếp hợp lý, lắp đặt những thiết bị hiện đại ở những vị trí thích hợp, không làm ảnh hưởng đến kiến trúc truyền thống. Chính quyền cần quy hoạch không gian bảo tồn, hướng dẫn nhân dân địa phương giữ gìn không gian văn hóa truyền thống, đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể phát triển kinh tế ngay trên mảnh đất của mình, bảo tồn không gian văn hóa truyền thống phải gắn liền với nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.

+ Khai thác du lịch sinh thái – văn hóa vùng Nam – Ngãi

Hiện nay, Quảng Nam đang phát triển du lịch phía Bắc với các điểm đến hấp dẫn: Đô thị cổ Hội An, Cù Lao Chàm, Khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn; phía Nam Quảng Nam có vùng biển Núi Thành với giá trị địa chất tiêu biểu, giàu tiềm năng du lịch nhưng chưa khai thác được nhiều. Quảng Ngãi cũng nằm trong tình trạng giàu tiềm năng nhưng chưa khai thác được bao nhiêu, ngoại trừ đảo Lý Sơn mấy năm gần đây bắt đầu thu hút khách du lịch, các điểm khác như đầm An Khê, biển Sa Huỳnh, Núi Thiên Ấn, Cổ Lũy Cô Thôn,… vẫn chưa phát huy được nhiều. Vấn đề ở đây không phải là các địa điểm trên kém giá trị văn hóa và thiên nhiên, mà là chưa có sự liên kết thật sự và bền vững giữa các tỉnh trong khu vực cũng như chưa có sự đầu tư hợp lý về hạ tầng du lịch.

Quảng Nam và Quảng Ngãi có những điểm tương đồng về địa lý và văn hóa, nếu kết nối không gian văn hóa Sa Huỳnh để bảo tồn văn hóa và khai thác du lịch sẽ tạo cơ hội thuận lợi để hai tỉnh cùng phát triển. Du lịch phát triển, du khách đến nhiều sẽ tạo điều kiện để nhân dân địa phương làm dịch vụ ăn uống, lưu trú, nâng cao mức sống; nếu người dân phát triển kinh tế gia đình dựa vào không gian văn hóa thì chính họ sẽ có ý thức tự giác bảo vệ không gian văn hóa đó; ngược lại không gian văn hóa được bảo tồn tốt, trở thành điểm đến hấp dẫn thì sẽ thu hút khách du lịch ngày càng nhiều hơn.

                                                                             H.X.T

[1]  Đoàn Ngọc Khôi. Nhận thức mới về giai đoạn Long Thạnh – Tiền Sa Huỳnh. Bản tin KH&ĐS số 1/2015