Du khảo văn hóa Chăm ở Bình Thuận

Nằm ở cực Nam vùng Nam Trung bộ, Bình Thuận là tỉnh duyên hải với dải đồng bằng hẹp, khô cằn, cồn cát nhấp nhô dọc ven biển, ở phía Tây là những dãy đồi núi thấp điểm sắc đỏ bazan nối liền với vùng núi Đông Nam bộ. Vùng đất khô hạn thích hợp với cây bụi lúp xúp và các loài cây xương rồng, từ lâu đã trở thành vùng chuyên canh

Sông Cà Ty

thanh long với những cánh đồng bạt ngàn trái ngọt và thanh mát.

Mặc dù là vùng đất khô cằn nhưng Bình Thuận vẫn có hệ thống sông suối mát lành. Ở vùng thượng nguồn có nhiều sông suối chảy qua các xã miền núi. Hai dòng chính là sông Ta Da và sông Móng chảy đến xã Hàm Thạnh hợp lưu thành sông Cà Ty, từ đây sông chảy qua xã Mương Mán huyện Hàm Thuận Nam do đó sông Cà Ty còn được gọi là sông Mương Mán, rồi sông chảy qua thành phố Phan Thiết và đổ ra cửa biển Cồn Chà. Là vùng đất người Chăm sinh sống từ xa xưa, Bình Thuận còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Chăm.

Từ trung tâm thành phố Phan Thiết, đi về hướng Tây – Nam khoảng 7km, ta sẽ nhìn thấy nhóm tháp Pô Sha Inư (còn gọi là tháp Chăm Phố Hài) sừng sững trên đồi Bà Nài, thuộc phường Phú Hài. Theo các nhà nghiên cứu, nhóm tháp Pô Sha Inư được xây dựng vào khoảng cuối VIII đầu IX, thuộc phong cách kiến trúc Hòa Lai – một trong những phong cách kiến trúc cổ của Chămpa. Đến thế kỷ XV, người Chăm xây dựng thêm một số đền thờ với lối kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Pô Sha Inư, con vua Para Chanh, tương truyền, bà là người tài đức, đã dạy cho nhân dân dệt vải, trồng trọt, đánh cá và chăn nuôi. Đây là một trong những cụm tháp Chăm còn tương đối nguyên vẹn ở Bình Thuận. Hiện nay nhóm tháp chỉ còn ba công trình tồn tại:

– Tháp A, ngôi đền thờ chính. Chiều cao hiện nay khoảng 15 mét, bình đồ hình tứ giác, mỗi cạnh khoảng 20 mét. Cửa ra vào mở về hướng đông, 3 hướng còn lại có 3 cửa giả. Thân tháp bị hư hại khá nặng, đã được trùng tu, trên vòm cuốn ở hướng Tây hiện còn những dãy hoa văn thảo mộc. Tháp có 4 tầng, tầng trên là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới. Bên trong có bệ thờ Linga – Yoni bằng sa thạch,

– Tháp B nằm cách tháp A khá xa về hướng Bắc, cao hiện nay khoảng 12 mét, kiểu dáng kiến trúc tương tự tháp A nhưng đơn giản hơn. Trước đây trong tháp có thờ bò thần Nandin nhưng hiện nay không còn. Tháp đã được trùng tu trong thời gian gần đây.

– Tháp C nằm cạnh tháp A, hiện chỉ còn lại một phần tháp với chiều cao hơn 4 mét, cửa trổ về hướng Đông,  bề mặt tháp bị hư hại nặng nề, không còn dấu vết hoa văn. Tháp đã được trùng tu gần đây.

Sau những cuộc khai quật khảo cổ ở di tích Pô Sha Inư  vào năm 1992-1995, có thể biết còn một số công trình khác thuộc nhóm tháp này đã bị sụp đổ từ xa xưa. Năm 1991, nhóm tháp Pô Sha Inư  được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Cách tháp Pô Sha Inư khoảng 100m về hướng Nam, có một địa danh nổi tiếng của Phan Thiết, gắn với nhà thơ Hàn Mặc Tử – Lầu Ông Hoàng – từng là nơi hẹn hò của Hàn Mặc Tử với người đẹp Mộng Cầm. Bài “Phan Thiết! Phan Thiết!” với những vần thơ lãng mạn, da diết đã ra đời ở vùng đất này: “…Ta là trai khí huyết ước ao mơ/ Người thục nữ sanh giữa thời vô thượng/ Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng/ Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng/ Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang/ Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết/ Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết!/ Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi…”.

Lầu Ông Hoàng được xây dựng vào năm 1911, đây là một công trình hiện đại và nguy nga nhất ở Bình Thuận thời bấy giờ, chủ nhân biệt thự là một Công tước người Pháp. Trải qua thời gian và chiến tranh, ngày nay Lầu Ông Hoàng chỉ còn lại nền phế tích.

Tháp Pô Sha Inư

Từ thành phố Phan Thiết, đi về phía Bắc khoảng 60km, đến địa phận thôn Lương Bình, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, ta sẽ gặp đền thờ vua Chăm Pôklông – Mơh Nai trên đỉnh một đồi cát. Công trình được xây dựng theo kiểu đình, chùa người Việt. Ðền thờ gồm có 5 gian, bố cục mặt bằng hình chữ T. Dãy nhà chính có 3 gian dùng để thờ: gian giữa thờ tượng vua Pôklông – Mơh Nai, Tượng vua Pôklông – Mơh Nai được điêu khắc bằng một khối đá xanh xám khá lớn, thể hiện nhà vua đang ngự ở ngai vàng, đầu đội vương miện. Bên trái là gian thờ hoàng hậu người Chăm; gian bên phải thờ tượng thứ phi người Việt, con gái của một vị chúa Nguyễn; cạnh đó có một số tượng Kút các của các hoàng thân. Dãy nhà trước gồm hai gian lớn dùng làm nơi chờ đợi và thực hiện nghi lễ bên ngoài trước khi vào đền thờ.

Hàng năm, hậu duệ nhà vua cùng đồng bào Chăm tổ chức nhiều nghi lễ tại đền thờ. Vào dịp lễ hội Katê tổ chức vào tháng 7 lịch Chăm (tháng 10 dương lịch), tượng vua được đội vương miện thật bằng vàng, mặc áo đại lễ. Tượng hoàng hậu và thứ phi cũng được làm nghi lễ thánh tẩy, mặc áo lễ, đội mũ. Ðền thờ Vua Chăm Pôklông – Mơh Nai đã được Bộ Văn hóa,Thông Tin và Thể Thao xếp hạng di tích lịch sử – nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1991.

Rời đền thờ Pôklông – Mơh Nai, theo Quốc lộ 1A đi về hướng Đông – Bắc khoảng 30km, đến thôn Bình Hiếu, xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình sẽ gặp đền thờ vua Pô Nít, vua lên ngôi năm 1603 đến 1613 thì nhường ngôi cho em trai. Công trình được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Ngôi đền được xây theo kiểu kiến trúc đình, chùa người Việt chứ không phải kiểu tháp Chăm truyền thống, mái lợp ngói, trên nóc gian thờ chính trang trí hình “lưỡng long triều nhật”. Cửa chính của đền mở về hướng Đông. Theo các nhà nghiên cứu, đền thờ vua Pô Nít là ngôi đền thờ Chăm đầu tiên được xây dựng theo kiểu này. Tượng vua Pô Nít ngồi trên bệ Yoni, lưng tựa vào phiến đá, được đặt ở gian thờ chính giữa, 2 bên thờ vị hoàng hậu người Chăm là Pô Mứk Chà và một hoàng hậu là con của chúa Nguyễn; bên cạnh đó còn thờ một số tượng Kút của các hoàng thân. Năm 2000, đền thờ Pô Nít được Bộ Văn hóa – Thông Tin xếp hạng di tích lịch sử – nghệ thuật cấp quốc gia.

Cũng tại huyện Bắc Bình, nếu muốn tìm hiểu nghề gốm truyền thống của người Chăm, chúng ta có thể đến thôn Bình Đức, phía sau chợ Lầu, cùng trên địa bàn xã Phan Hiệp. Người Chăm ở Bắc Bình gọi loại gốm được sản xuất ở Bình Đức là gốm Gọ (Gok: nồi). Đất sét được lấy từ vùng sông Quao là loại đất mịn và có độ dẻo cao. Người Chăm làm gốm truyền thống không có bàn xoay, đất sét sau khi nhồi được đặt lên một chiếc bàn gỗ nhỏ, người thợ dùng hai tay vuốt và di chuyển xoay quanh sản phẩm, sau khi tạo dáng xong, sản phẩm sẽ được hong khô sau đó chất đống trên sân, xen kẽ gốm với củi và rơm sau đó nung lộ thiên. Khi lửa tàn, người ta dùng nước ngâm vỏ trái thị hoặc hạt điều vẩy lên sản phẩm tạo ra những vết lốm đốm nâu sẫm rất đẹp mắt. Ngày nay, ngoài loại nồi, vò truyền thống, gốm Gọ còn có nhiều mẫu gốm mỹ nghệ đẹp để phục vụ khách du lịch.

Tháp Pô Dam

Cũng tại huyện Bắc Bình, chúng ta có thể tham quan làng dệt Chăm và mua sản phẩm dệt thổ cẩm truyền thống tại hai xã Phan Hòa và Phan Thanh. Người Chăm ở đây vẫn giữ được kỹ thuật bật bông kéo sợi, nhuộm sợi bằng chất liệu tự nhiên và dệt thổ cẩm bằng khung dệt thủ công, với các màu đen, đỏ, vàng, lục, người thợ dệt tạo ra các họa tiết đặc trưng của người Chăm rất đẹp mắt.

Từ huyện Bắc Bình, theo quốc lộ 1A đi về hướng Đông – Bắc khoảng 40km đến huyện Tuy Phong, chúng ta sẽ thấy một hệ thống mấy chục chiếc quạt không lồ của nhà máy Phong điện đang quay để vận hành các tuabin phát điện. Đến ngã tư Liên Hương, theo con đường nhỏ rẽ về hướng Tây khoảng 15km đến làng Lạc Trị, xã Phú Lạc, ta sẽ gặp một di tích tháp Chăm trên sườn đồi Ông Xiêm, gần đường tàu hỏa, đây là nhóm tháp thờ vua Pô Dam (Pô Tằm) – còn gọi là Pô Kathit (bàn La Trà Duyệt), trong thời gian trị vì vương quốc (1433-1460), vua Pô Dam đã cho làm hệ thống thủy lợi để phục vụ nông nghiệp ở vùng Tuy Phong –  Bắc Bình. Nhóm tháp Pô Dam gồm có 6 ngôi tháp nhỏ, cao khoảng 7-8m, chia làm hai cụm, hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn, còn 3 tháp khác đã bị sụp đổ. Theo các nhà nghiên cứu, căn cứ đồ án hoa văn thảo mộc xoắn xít và hình tượng Makara trên thân tháp C ở cụm tháp Bắc, loại hoa văn đặc trưng của phong cách Hòa Lai thì cụm tháp Bắc có niên đại khoảng thế kỷ VIII – IX, ở đây còn lưu giữ bệ thờ Linga – Yoni bằng sa thạch. Cụm tháp Nam gồm ba tháp, có niên đại khoảng thế kỷ XV. Trong 6 ngôi tháp này, chỉ có tháp Nam có cửa chính mở về hướng đông như hầu hết tháp Chăm, còn lại cả năm ngôi tháp kia đều mở cửa về hướng Nam.

Hiện hậu duệ của vua còn lưu giữ tám sắc phong do các vua triều Nguyễn phong tặng Vua Pô Dam. Hằng năm, vào khoảng tháng 4 theo lịch Chăm (khoảng tháng 7 dương lịch), tại tháp Pô Dam, người Chăm xã Phú Lạc và các vùng lân cận tổ chức lễ Yôr Yang cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu… Năm 1996, di tích này đã được Bộ Văn Hóa – Thông Tin xếp hạng kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Nhiều di vật quý giá của nền văn hóa Champa được lưu giữ tại Bảo tàng Bình Thuận và Trung tâm trưng bày Văn hóa Chăm Bình Thuận (nằm ở huyện Bắc Bình), tại hai địa điểm này, các nhà nghiên cứu và du khách có thể tận mắt nhìn thấy những báu vật của hoàng gia Champa, những đồ dùng trong dân gian cùng những hình ảnh lễ hội, lao động sản xuất… của người Chăm, hiểu thêm về nền văn hóa đã một thời vang bóng trong lịch sử nước nhà.

Ngoài văn hóa Chăm, Bình Thuận còn nổi tiếng với các di tích Trường Dục Thanh tức Dục Thanh Học hiệu, được xây dựng gần sông Cà Ty, ngay trong thành phố Phan Thiết, là ngôi trường do các sĩ phu yêu nước tỉnh Bình Thuận sáng lập vào năm 1907 để hưởng ứng phong trào Duy Tân. Tại ngôi trường này, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã dừng chân dạy học một thời gian trước khi vào Sài Gòn để xuất ngoại tìm đường cứu nước.

Một danh thắng nổi tiếng ở Bình Thuận mà những người thích du lịch mạo hiểm thường nhắc đến, đó là Núi Tà Cú cao khoảng 650m so với mực nước biển, nằm ven Quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, cách Phan Thiết 28 km về phía Nam. Chung quanh có Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Cú với diện tích khoảng 11.886 ha với hệ động vật khá phong phú, có một số loại nằm trong sách đỏ Việt Nam. Được xếp hạng là thắng cảnh cấp quốc gia năm 1993, núi Tà Cú đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng của nước ta.

Bình Thuận còn có đồi cát Mũi Né, nơi thu hút khách du lịch đến trượt cát và các nhà nhiếp ảnh săn tìm những khoảnh khắc đẹp của những đồi cát vàng nhấp nhô giữa trời xanh. Những bãi biển nước trong xanh biêng biếc như biển Rạng, Hòn Rơm, biển Kê Gà, biển Cổ Thạch… là nơi nghỉ dưỡng, tắm biển thích hợp trong mùa hè nóng bức.

Đến Bình Thuận, ngoài nước mắm Phan Thiết đã nổi tiếng từ lâu, các tín đồ ẩm thực không thể bỏ qua các món ăn đặc trưng như mực một nắng, bánh canh chả cá, gỏi cá Phan Thiết… Tất cả làm nên nét hấp dẫn của vùng đất duyên hải cực Nam Trung bộ đầy nắng và gió…

                                 T.H