Du khảo di sản tháp Chăm ở Bình Định

Bình Định, quê hương của soạn giả tuồng Đào Tấn, cũng là nơi xuất hiện “Bàn thành tứ hữu” (Bốn người bạn thành Đồ Bàn) – những thi sĩ tài hoa của đất Việt: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn – Đồ Bàn chính là kinh đô Vijaya vang bóng một thời. Là nơi định đô của vương quốc Champa trong thời gian rất dài, vì thế, nơi đây còn tồn tại một hệ thống đền tháp Chăm độc đáo được xây dựng từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ XIII.

Tháp Phú Lộc và núi Mò O

Hiện nay Bình Định còn 7 cụm với 13 tháp Chăm, gồm Bánh Ít, Dương Long, Tháp Đôi, Cánh Tiên, Phú Lốc, Thủ Thiện và Bình Lâm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng Bình Định có 8 cụm với 14 tháp – thêm tháp Hòn Chuông nằm trên đỉnh núi Hòn Chuông ở độ cao khoảng 600m so với mực nước biển, tuy nhiên Hòn Chuông chỉ còn nền móng tháp, do đó nếu tính cả các tháp Chăm đã sụp đổ thì Bình Định còn có tháp Mẫm nổi tiếng và hàng chục phế tích khác. Phần lớn các tháp Chăm ở Bình Định được xây trên các ngọn đồi cao, có lẽ do quan niệm về phong thủy của người Chăm cổ, mặt khác trên những ngọn đồi này có thể quan sát rất xa và truyền tin bằng khói giữa các vùng trên đất Vijaya.

Tháp Dương long

Ngay trong thành phố Quy Nhơn, một khu tháp có niên đại khoảng cuối thế kỷ XII, nằm trên đường Trần Hưng Đạo, được nhân dân địa phương quen gọi là tháp Đôi hoặc tháp Hưng Thạnh. Cụm tháp xếp thành hàng theo trục Bắc – Nam, đây là kiểu nhóm 3 tháp truyền thống trong kiến trúc đền tháp Champa, tuy nhiên hiện nay chỉ có 2 ngôi tháp, một số người cho rằng người Chăm xưa chỉ mới xây 2 ngôi tháp thì gặp một biến cố nào đó phải dừng việc xây dựng ngôi tháp thứ ba, cũng có thể ngôi tháp thứ ba đã bị sập đổ từ lâu không còn dấu tích vì cụm tháp này nằm trong khu dân cư. Ngôi tháp phía Bắc cao khoảng 20m, tháp phía Nam cao khoảng 18m. Cả 2 ngôi tháp này có kiểu dáng khá đặc biệt, phần đế và thân tháp có bình đồ tứ giác kiểu tháp Chăm truyền thống, phần diềm mái bằng sa thạch, trang trí nhiều hình khỉ múa, nhô ra so với thân tháp, giật cấp thành nhiều tầng cong nhỏ dần về phía trên tương tự những tháp Khmer thời Angco Vat, trên mái tháp Bắc gắn nhiều tượng gajasimha, makara, tu sĩ… theo các nhà nghiên cứu những tượng chim thần Garuda bằng sa thạch với hai tay đưa cao, trang trí ở các góc mái tháp mang phong cách nghệ thuật Khmer thế kỷ XII-XIII. Thân tháp có một cửa chính và 3 cửa giả, trụ ốp tường vút cao, phía trên cửa chính và cửa giả là vòm cửa hình mũi giáo, chạm khắc hoa văn thảo mộc. Phần đế tháp được ốp quanh bởi những khối sa thạch, chạm giật cấp thành hình những tầng sen cách điệu, có một vài khối đá chạm hoa văn thảo mộc đặc trưng của phong cách Bình Định. Bên trong lòng tháp Bắc còn thờ một bộ linga-yoni. Tháp phía Nam tương tự tháp Bắc nhưng phần đá ốp chân tháp không còn nữa, phần mái cũng hư hại nặng.

Tháp Cánh Tiên

Rời tháp Đôi, đi theo Quốc lộ I về hướng Bắc khoảng 19km, đến địa phận xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, sát đường giao thông ta sẽ nhìn thấy nhóm tháp Bánh Ít trên đỉnh đồi cao gần 100m so với mực nước biển. Các học giả người Pháp gọi di tích này là khu tháp Bạc (Tours D’ argent). Khu tháp Bánh Ít hiện nay còn tồn tại 4 công trình, gồm tháp cổng (gopura), tháp bia (posa), tháp hỏa (Kosa-Gr’ha) và đền thờ chính (Kalan). Ngôi tháp cổng với bình đồ hình vuông, mở 4 cửa ra vào ở 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mái tháp có 3 tầng thu nhỏ dần về phía trên; tường tháp có các trụ ốp bằng gạch không trang trí hoa văn; vòm cửa ra vào hình mũi giáo xếp chồng 3 lớp. Phía sau tháp cổng chếch về phía Đông Nam là tháp bia, hình dáng tương tự tháp cổng. Trên đỉnh đồi là tháp hỏa có mái cong hình thuyền, tương tự như tháp B5 Mỹ Sơn, có hai cửa ra vào ở hướng Đông và hướng Bắc; hai đầu hồi mái trang trí hoa văn thảo mộc cong thành vòm cuốn với cành lá cong vểnh lên 2 đầu mút, phía trên đỉnh vòm cuốn có tạc tượng nam thần; trụ ốp tường trên thân tháp chạm khắc hoa văn thảo mộc đan chéo thành hình những số 8 nối tiếp nhau. Ngôi đền thờ chính nằm ở phía Bắc tháp hỏa, cao nhất trong nhóm, là kiểu tháp Champa truyền thống với bình đồ hình vuông, cửa mở về hướng Đông; trụ ốp tường hầu như không trang trí, chỉ có những đường gờ chìm nổi, làm cho tháp có vẻ cao hơn; vòm cửa ra vào và cửa giả hình ngọn giáo xếp thành 3 lớp, trang trí hoa văn thảo mộc; mái tháp có 3 tầng thu nhỏ dần về phía trên, đường diềm mái bằng gạch nhô ra thành một tầng sen cách điệu đỡ lấy mái tháp, trên các tầng mái tháp gắn những tháp góc với những trang trí góc sa thạch hình ngọn lửa. Các nhà nghiên cứu cho rằng tháp Bánh Ít có niên đại khoảng cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI, nằm ở giai đoạn chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định.

Từ nhóm tháp Bánh Ít, đi về về hướng Bắc chừng 16km, đến địa phận thôn Châu Thành, phường Nhơn Thành, huyện An Nhơn ta sẽ thấy một ngôi tháp dựng trên một đỉnh đồi cao khoảng 80m so với mực nước biển, đó là tháp Phú Lốc (còn gọi là Thốc Lốc, Phốc Lốc). Các nhà nghiên cứu Pháp gọi Phú Lốc là Tháp Vàng (Tour d’Or). Từ Quốc lộ I vào tháp khá xa lại nhiều lối rẽ, nếu không có người chỉ dẫn rất khó tìm đường lên tháp. Tháp có bình đồ hình vuông, cao khoảng 15m, có cửa chính ở hướng Đông và 3 cửa giả, vòm các cửa xếp chồng 3 lớp hình mũi giáo có trang trí hoa văn thảo mộc tạo thành dải xoắn đặc trưng của phong cách Bình Định ở thế kỷ XII. Các trụ ốp tường không trang trí hoa văn, vút thẳng lên trên đỡ lấy diềm mái. Mái tháp có 3 tầng, là hình ảnh thu nhỏ của thân tháp.

Gần tháp Phú Lốc, phía giáp giới giữa huyện An Nhơn và Phù Cát có một ngọn núi hình dáng rất độc đáo, núi chỉ cao khoảng 399m, đứng sừng sững giữa vùng đồng bằng, đỉnh núi giống như một cái miệng há ra hướng lên trời, đó là núi Mò O, người dân địa phương cũng không hiểu vì sao gọi là Mò O vì trên núi hiện không có bất kỳ cây mò o nào. Cái miệng khổng lồ hướng về phía trời như đang mắng mỏ nên người ta con gọi núi bằng cái tên rất hoa mỹ là Mạ Thiên Sơn (Núi mắng trời). Tương truyền ngọn núi này là bình phong, là núi thiêng của thành Đồ Bàn. Từ trên đỉnh núi, người ta có thể quan sát cả một vùng đồng bằng rộng lớn của 2 huyện An Nhơn và Phù Cát, ở phía Tây Nam có thể nhìn rõ tháp Cánh Tiên nằm trên một ngọn đồi thấp thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn.

Trong sách Đại Nam nhất thống chí ghi:“An Nam cổ tháp ở thôn Nam An, huyện Tường Vân, trong thành Đồ Bàn, tục gọi là tháp Cánh Tiên. Từ vai tháp trở lên, bốn phía đều giống như cánh tiên bay lên nên gọi tên ấy”. Các nhà nghiên cứu người Pháp gọi ngôi tháp này là Tháp Đồng (Tour de Cuvre). Ngôi tháp có bình đồ tứ giác, mái có 4 tầng, thu nhỏ dần lên trên, là kiểu thức truyền thống của tháp Chăm. Cửa chính mở về hướng Đông, ba phía còn lại là cửa giả, vòm cửa hình mũi giáo, xếp chồng 4 lớp, trang trí hoa văn thảo mộc cầu kỳ, tinh xảo. Dọc theo thân tháp, ở 4 góc có 4 trụ ốp tường bằng sa thạch vươn lên đỡ lấy phần diềm mái bằng sa thạch, dọc thân trụ chạm những dải hoa văn thảo mộc xoắn cuộn sóng nối tiếp nhau. Ở mỗi tầng tháp, có 4 tháp góc với lối trang trí rất tinh tế, 4 cạnh của tháp góc gắn những vật trang trí góc bằng sa thạch hình cánh chim xòe ra, nhìn từ xa như những đôi cánh thần tiên đang bay lên, có lẽ vì thế mà người xưa gọi là tháp Cánh Tiên. Các nhà nghiên cứu cho rằng tháp Cánh Tiên là công trình kiến trúc Champa tiêu biểu cho phong cách Bình Định ở thế kỷ XII.

Từ tháp Cánh Tiên, đi về phía Đông – Nam, đến thôn Bình Lâm, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước ta sẽ gặp tháp Bình Lâm. Tháp có bình đồ hình vuông, mái tháp thu nhỏ dần về phía trên, tháp cao khoảng 20m. Dọc thân tháp là những trụ ốp tường trang trí hoa văn cánh sen lật ngửa liên hoàn thành chuỗi dọc. Mái tháp có 4 tầng, nhỏ dần về phía trên. Mỗi tầng là hình ảnh thu nhỏ của thân tháp nhưng được trang trí bởi các hoa văn chạm trổ tinh tế. Đường diềm bằng gạch hình kỷ hà tạo thành tầng sen cách điệu nhô ra ngăn cách thân và mái, quanh đường diềm được trang trí bằng hoa văn cánh sen cách điệu, uốn lượn liên hoàn. Theo các nhà nghiên cứu, tháp Bình Lâm có niên đại khoảng cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI, có lẽ là tháp có niên đại cổ nhất ở Bình Định. Cạnh tháp Bình Lâm là chùa Thiên Trúc, trong sân chùa có tượng chim thần Garuda hình người, tượng voi bằng sa thạch, đặc biệt là một linga có thể hiện búi tóc của thần Siva, chắc hẳn đó là những tác phẩm điêu khắc thuộc tháp Bình Lâm được nhà chùa mang về bảo quản.

Đi theo quốc lộ 19 lên huyện Tây Sơn, trên đôi bờ sông Côn, ta sẽ gặp 2 khu tháp Chăm khác, đó là khu tháp Dương Long và tháp Thủ Thiện.

Tháp Thủ Thiện thuộc địa phận thôn Thủ Thiện, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, được xây trên một vùng đất tương đối thấp, cách bờ nam sông Côn khoảng 1km. Tài liệu của người Pháp ghi là Tháp Đồng (Tour de Bronze). Tháp có bình đồ hình vuông, mỗi cạnh đo được 8,5m. Thân tháp là một khối trụ vuông, cửa chính mở về phía Đông. Vòm cửa hình mũi giáo xếp thành nhiều lớp. Diềm mái bằng gạch nhô ra bốn phía đỡ lấy phần mái. Mái gồm 3 tầng tương tự nhau thu nhỏ dần về phía trên; ở mỗi tầng, bốn góc được trang trí bằng các tháp góc nhỏ nhiều tầng, kiểu dáng quen thuộc của tháp Chăm Bình Định. Tháp không đồ sộ nhưng là công trình kiến trúc có kiểu dáng mang những yếu tố đặc trưng của phong cách Bình Định, đó là các vòm cửa hình mũi lao cao vút lên, các cột ốp để trơn không trang trí, các tháp góc xếp thành nhiều tầng sít nhau. Các nhà nghiên cứu cho rằng tháp có niên đại khoảng từ nửa cuối thế kỷ XI sang đến nửa đầu thế kỷ XII.

Phía bờ Bắc sông Côn, cách tháp Thủ Thiện khoảng 5km, trên một ngọn đồi thấp thuộc địa phận 2 xã Bình Hòa và Tây Bình, ta thấy sừng sững 3 ngôi tháp xếp hàng theo trục Bắc – Nam vươn lên trời xanh, đó là nhóm tháp Dương Long. Tài liệu Pháp ghi là nhóm tháp Ngà (Tours D’ Ivoire). Theo kết quả khai quật khảo cổ học những năm gần đây, ngoài 3 ngôi tháp chính, di tích Dương Long có một số công trình khác đã bị sụp đổ từ lâu. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng trăm tác phẩm điêu khắc bằng đá và đất nung bị chôn vùi dưới đất. Theo các nhà nghiên cứu, nhóm tháp Dương Long được xây dựng vào khoảng nửa cuối thế kỷ XII, dưới triều vua Jaya Indravarmadeva. Cả 3 tháp có bình đồ hình vuông, cửa mở về hướng Đông, kiểu dáng kiến trúc tương tự nhau, hiện tại tháp bắc và tháp nam cao khoảng 30m, tháp giữa cao khoảng 36m. Tháp chia làm ba phần. Đế tháp khá cao được ốp đá chung quanh, thân tháp cao vút, trên mặt tường trang trí các trụ ốp để trơn vươn lên đến diềm mái. Cửa ra vào tuy đã bị sạt lở nhưng căn cứ vào dấu vết còn lại có thể thấy vòm cửa được tạo dáng hình mũi lao với nhiều lớp liên tiếp chồng khít lên nhau, phần tiền sảnh chắc hẳn khá dài ra phía trước vì hiện tại ngạch cửa nằm ở độ cao trên 2m. Các cửa giả mô phỏng cửa chính nhưng nhỏ hơn. Diềm đá ngăn cách thân và mái được chạm khắc tinh tế thể hiện hình voi, sư tử, bò thần Nandin… mỗi con một tư thế chuyển động kết thành dải chạy vòng quanh. Hệ mái có cấu trúc bốn tầng nhỏ dần về phía trên. Căn cứ vào kiểu dáng mái tháp và hoa văn trang trí, các nhà nghiên cứu cho rằng tháp Dương Long tuy vẫn mang nhiều đặc trưng của tháp Champa nhưng đã chịu ảnh hưởng khá đậm nghệ thuật Kh’mer.

Ở bờ Bắc sông Côn, đừng quên ghé thăm Gò Cây Me, di chỉ khảo cổ học thuộc xã Nhơn Mỹ, thị xã An Nhơn, đây là một trong sáu trung tâm sản xuất đồ gốm đặc sắc của người Chăm ngày xưa tại Bình Định. Với hàng chục ngàn hiện vật đã được tìm thấy, các nhà khảo cổ cho rằng các lò gốm Gò Cây Me chuyên cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao, phục vụ tầng lớp thượng lưu trong xã hội đương thời, đồng thời cũng là một loại hàng hóa thương mại cao cấp để xuất khẩu.

Trong chuyến du khảo các tháp Champa ở Bình Định, chúng ta nhớ thưởng thức các món đặc sản của xứ Nẫu như bánh hỏi lòng heo, nem nướng, bún chả cá, gỏi cá chình, bánh tráng dừa… Và cũng đừng quên đến thăm bảo tàng Quang Trung để hiểu thêm về vai trò của vương triều Tây Sơn trong lịch sử, để xem biểu diễn quyền thuật đặc sắc của miền đất võ hòa trong tiếng trống trận Tây Sơn hào khí ngất trời…

H.X.T