Đôi nét về văn hóa cảng thị Nước Mặn

Trong gần hai thế kỷ tồn tại, cảng thị Nước Mặn xưa (ở thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định ngày nay) thời phồn thịnh là một trung tâm thương mại, kinh tế và văn hóa của Bình Định và cả Đàng Trong. Tuy đã suy tàn từ lâu nhưng những thành tựu văn hóa thuở phồn thịnh nơi đây vẫn còn âm vang đến tận hôm nay.

Ven sông Gò Bồi, nơi từng có cảng thị Nước Mặn một thời tấp nập

Kể từ khi làm trấn thủ vùng Thuận Quảng, đến đầu thế kỷ XVII, với ý đồ cát cứ để chống lại họ Trịnh nên Nguyễn Hoàng chú tâm mở mang buôn bán với nước ngoài nhằm xây dựng tiềm lực cho Đàng Trong. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635) việc bang giao, buôn bán với nước ngoài tiếp tục phát triển mạnh hơn nhằm thu hút ngoại lực để xây dựng, phát triển kinh tế. Đây cũng là thời kỳ thương nghiệp thế giới phát triển mạnh, các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ý, Anh… và phương Đông như Trung Hoa, Nhật Bản vượt biển tìm kiếm thị trường Đông Nam Á. Thuyền buôn các nước đã đến các cảng thị nổi tiếng xứ Đàng Trong như Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Huế) và Nước Mặn (Bình Định). Do đó, cảng thị Nước Mặn phát triển mạnh vào đầu thế kỷ XVII và trở thành một cảng thị phồn vinh, nổi tiếng cả xứ Đàng Trong.

Theo mô tả của Cristophoro Borri trong tác phẩm “Xứ Đàng Trong năm 1621”, cảng thị là một khu vực dài khoảng hai dặm (tương đương 3,2 km) và rộng khoảng một dặm rưỡi (tương đương 2,4 km). Như vậy khi C. Borri đến đây – năm 1617, Nước Mặn đã là một cảng thị đông đúc. Vùng trung tâm cảng thị thuộc các thôn An Hòa, Hòa Quang, nay là xóm Lương Quang ngoài (xã Phước Quang) có nhiều dãy phố chạy ngang dọc như bàn cờ. Có những dãy phố chuyên bán một loại hàng hóa như vàng bạc và đồ trang sức, phố tiệm thuốc bắc, phố hàng mã, pháo, hàng nhang đèn, hàng tơ lụa, gấm vóc, hàng đồ gốm, hàng mỹ nghệ, hàng đồ đồng, hàng đồ gỗ, hàng sách chữ Hán, đồ thờ cúng. Sầm uất nhất là khu phố chợ. Chợ Nước Mặn họp hàng ngày nhưng tấp nập nhất là vào những ngày chợ phiên. Thuở phồn thịnh, Nước Mặn trở thành một biểu tượng đẹp về đời sống phồn hoa đô hội của phủ Quy Nhơn xưa và của cả xứ Đàng Trong. Tới ngày chợ phiên, tàu thuyền đậu kín bến, voi chở lâm sản từ miền thượng về, ngựa thồ hàng từ các thị trấn, thị tứ trong vùng tới. Người trong nước, ngoài nước đủ màu da, nhiều tiếng nói đi lại nhộn nhịp trên đường phố. Hàng hóa Đông – Tây đủ màu, đủ kiểu bày trong các cửa hiệu, ngoài quán chợ.

Chùa Bà, nơi thờ Thiên hậu Thánh mẫu và Thành hoàng, biểu tượng của sự giao lưu, tiếp biến văn hóa ở cảng thị Nước Mặn xưa

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân trong tác phẩm “Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền”, người Nước Mặn chân thành, nhân hậu, trọng nghĩa tình trong xử thế, thương yêu, đùm bọc nhau trong hoạn nạn, biết giữ phẩm giá của mình và quý trọng người trong giao tiếp. Đặc biệt người Nước Mặn không kỳ thị dân tộc, sẵn lòng cứu giúp người nước ngoài bị đắm tàu; họ cởi mở, lịch thiệp, rộng lượng, tạo điều kiện cho người phương xa tới sống hòa hợp với mình. Giáo sĩ từng đến sống, truyền đạo nơi đây – Cristophoro Borris đã ca ngợi một trong những nét nhân cách tốt đẹp của người Nước Mặn trong tác phẩm xứ Đàng Trong năm 1621 của ông: “Từ tính tình rất trọng khách và cách ăn ở giản dị đó mà họ rất đoàn kết với nhau, rất hiểu biết nhau, đối xử với nhau rất thành thật, rất trong sáng như thể tất cả đều là anh em với nhau, cùng ăn uống và cùng sống vui trong một nhà, mặc dầu trước đó họ chưa bao giờ thấy nhau”.

Chính sách của các chúa Nguyễn khá cởi mở đối với đạo Thiên Chúa vì các chúa xem giáo sĩ như những mắt xích quan trọng giữa chính quyền Đàng Trong với các thương nhân để thúc đẩy quá trình giao lưu, buôn bán với ngoại quốc. Vì vậy tại Nước Mặn các cha Dòng Tên người Bồ Đào Nha và Ý được phép xây dựng một nhà thờ và được tự do truyền đạo. Và nhằm phục vụ cho việc truyền đạo dễ dàng hơn các giáo sĩ đã nghiên cứu phương pháp Latin hóa tiếng Việt. Cha De Pina, sau khi rời Hội An vào Nước Mặn năm 1618, trong thời gian sống tại đây, ông đã cùng với cha Borri tiếp tục nghiên cứu ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin. Kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự Latin hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng Việt. Cũng trong thời gian này ông đã biên soạn bản thảo những cuốn sách đầu tiên như “Chuyên luận về từ vựng và các thanh” và hoàn thành “Các sưu tập chuyện cổ tích và bài viết hay nhất của Đàng Trong” dưới dạng chữ Quốc ngữ(1). Từ những việc làm của Pina và căn cứ vào nhiều dữ kiện khác, có thể thấy Nước Mặn là một trong những nơi chữ Quốc ngữ được hình thành.

Là nơi tụ hội, chung sống của người Việt, người Hoa, người Chăm, có cả người Nhật đến buôn bán, các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo, xây dựng nhà thờ Thiên Chúa ở đây và cùng với đó là cộng đồng tín đồ Thiên Chúa giáo hình thành. Tại đây đã diễn ra quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa rất phong phú. Chính chùa Bà và Lễ hội chùa Bà là biểu tượng trung tâm của sự giao lưu, tiếp biến đó. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân, năm 1626 đã có chùa Bà, còn có tên là Thiên Hậu miếu, thờ Thiên hậu Thánh Mẫu – vợ của Trời. Người Hoa đã suy tôn bà như phụ nữ đức hạnh, có lòng hiếu thảo, có đức hy sinh, lòng nhân ái xả thân vì mọi người. Tục thờ này khi du nhập vào Đàng Trong hòa nhập, tiếp biến với tục thờ Mẫu của người Việt, nên chùa Bà trở thành nơi thờ cúng, sùng bái chung của người Việt và người Minh Hương trong vùng. Trong những ngày hội chùa Bà xuất hiện các trò chơi dân gian đánh đu, kéo co, đấu võ, đấu vật, chơi cù, chọi gà, bắt vịt, nấu cơm thi, bịt mắt bắt dê, thả thơ, xổ cổ nhơn, hô bài chòi, đánh cờ người… của người Việt; các trò chơi đốt cậy bông, đổ giàn có nguồn gốc từ người Hoa và còn có trò chơi chịu ảnh hưởng của các thầy cúng người Chăm như hát mộc xà leo.

Có rất nhiều sắc thái biểu hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa người Nước Mặn và các giáo sĩ phương Tây đến sống và truyền giáo ở đây. Một trong những sự kiện tiêu biểu thể hiện sự giao lưu tiếp biến đó là cuộc tranh luận tôn giáo giữa những người đại diện cho Phật giáo và Công giáo. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân, do những bất đồng tôn giáo đã diễn ra trước đó, ở Nước Mặn lúc đó có thầy Tư Bình, một đạo sư nổi tiếng có tới hàng trăm môn đệ, đã gửi thư cho cha Buzomi – một giáo sĩ người Ý, đang sống và truyền đạo tại đây yêu cầu mở một cuộc tranh luận tôn giáo công khai trước công chúng. “Ngày giờ và nơi gặp mặt đã được ổn định, thầy đem theo 200 đệ tử, kèn trống đón rước linh đình, còn cha Buzomi đơn sơ trong bộ áo tu hành nghèo nàn, không có người đưa đón. Số người dự thính rất đông, các quan chức, kỳ hào, thầy sư, thầy sãi đủ cả”(2) . Hiện nay không còn tài liệu mô tả cụ thể những diễn biến của cuộc tranh luận tôn giáo độc đáo này nhưng chỉ với việc cuộc tranh luận diễn ra tại Nước Mặn, có sự chứng kiến của quan chức triều đình, hiện tượng ít gặp dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, đã thể hiện tinh thần tôn trọng tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng của người Nước Mặn thuở ấy và là một biểu hiện đẹp của văn hóa Nước Mặn thời phồn vinh.

                                                                                            N.H.S

                   

(1)Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Quyển 1, Tr.68 – Trích theo Nguyễn Xuân Nhân, Cảng thị nước Mặn và văn hóa cổ truyền, Tr 144.

(2) Nguyễn Thị Hải, Vai trò các chúa Nguyễn đối với sự ra đời chữ Quốc ngữ ở đàng Trong- Bình Định với chữ Quốc ngữ, Tr 36