Về Phước Trà nghe kể chuyện chiến khu xưa

Chúng tôi được các anh trong Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hiệp Đức đưa về thăm khu di tích Khu ủy Khu V tại xã Sông Trà trong niềm vui hai xã Phước Trà và Sông Trà vừa được công nhận là xã An toàn khu. Đoàn gồm các anh chị trong Ban Tuyên huấn Khu ủy V thời chống Mỹ do nhà báo Kim Tuấn, nhà văn Hồ Duy Lệ và nhà điêu khắc Phạm Hồng, các anh chị trong Chi hội Văn học các dân tộc thiểu số – miền núi thuộc Hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Nam, anh em trong Câu lạc bộ thơ – nhạc Sông Tranh cùng

Khu di tích căn cứ Phước Trà

đông đảo bạn viết xa gần. Thế nhưng, đến giờ lên đường nhà văn Nguyễn Bá Thâm và nhạc sĩ Dương Trinh ngẫu hứng đề nghị tôi tách đoàn đi bằng xe máy. Cả ba chúng tôi đi theo quốc lộ14E về phía hạ nguồn sông Trà Nô, giáp với sông Trường bên cầu Bà Huỳnh. Buổi chiều, nắng vãng. Xe chạy ngang qua những rừng cao su đỏ ối trong mùa thay lá. Những rừng keo tràm chờ vụ xanh ngút ngát. Nhà văn Nguyễn Bá Thâm cứ nao nao bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm ở vùng rừng núi Phước Trà – nơi mà nhà văn cùng đồng đội, đồng nghiệp ở Tiểu ban văn nghệ và các tiểu ban khác của Ban Tuyên huấn Khu ủy V hoạt động một thời. Với anh là cả một trời kỷ niệm, một thời nhiệt huyết tuổi trẻ khu trú tại nơi đây. Anh kể: Anh vào chiến trường Khu V năm 1971 sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội và khóa đào tạo lớp viết văn, viết báo phục vụ chiến trường theo chỉ đạo của nhà thơ Tố Hữu, bấy giờ là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên huấn Trương ương. Cùng vào chiến trường Khu V thời gian còn có các anh, chị Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Bảo, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Trí Huân, Trần Vũ Mai… Sau Tết Mậu Thân (1968) đến năm  1971 là những năm tháng khốc liệt nhất, cam go nhất trên chiến trường  Khu V, đặc biệt là chiến trường Quảng Đà, Quảng Nam. Để kịp thời chỉ đạo cách mạng trong giai đoạn cam go này, năm 1973 Ban chỉ đạo Khu ủy Khu V quyết định dời căn cứ khu ủy từ Nước Oa (Nam Trà My) về Phước Trà. Một vùng giáp ranh, sát nách kẻ thù, có địa thế giao thông liền mạch, rộng, thoáng đủ để tập trung quân đội đông, có nơi làm kho bãi chứa súng đạn, hàng hóa, thuốc men phục vụ chiến trường và nhất là lực lượng quần chúng trung thành, tin cậy, sẵn sàng nuôi nấng và bảo vệ cách mạng.

Dừng lại bên cầu Bà Huỳnh, anh chậm rãi kể cho tôi và nhạc sĩ Dương Trinh nghe về Khu ủy khu V ngày cũ. Anh nói: Bây chừ mình vẫn còn nhớ như in những tình cảm mà dân làng Phước Trà riêng dành cho bộ đội. Họ sống tốt vô cùng. Khi bọn mình đi công tác dăm ngày nửa tháng hoặc đi tham gia một trận đánh nào đó, lúc về ngã ba sông Trà Nô, bà con thấy tụi mình còn sống, còn lành lặn, họ mừng lắm, thương lắm. Họ cứ hỏi thăm xem có đứa nào bị thương, có vết tích trầy xước nào không. Trong gùi có ngọn rau ranh, ngọn bầu bí, con ốc đá nào thì cũng dành hết cho tụi mình, cho bộ đội. Quên làm sao được ngày họa sĩ Hà Xuân Phong – người con của quê hương An Hải, Đà Nẵng, em nuôi của nhà thơ Tố Hữu, bị nước lũ sông Trà Nô cuốn trôi. Anh em Ban Tuyên huấn xuống tận Hòn Kẽm – Đá Dừng tìm kiếm nhưng cuối cùng được người dân, với kinh nghiệm ở rừng đã sớm phát hiện và an táng.

Anh đốt một bó nhang và thầm thì gọi bạn cùng về. Anh bảo: riêng Ban Tuyên huấn với 13 Tiểu ban thì mùa lũ năm 1974 có hai người nằm lại nơi con sông Trà Nô này là họa sĩ Hà Xuân Phong và cô Nguyễn Thị Đệ – người miền Bắc là điện báo viên của Tiểu ban Thông tấn xã. Ngày ấy, họ còn rất trẻ mà cũng giỏi giang lắm.

Men theo đường vào hạ nguồn sông Trà Nô, bây giờ là nhà máy chế biến cao su, anh chỉ cho chúng tôi nơi ở và làm việc dành riêng cho Ban Tuyên huấn và các Tiểu ban tại căn cứ Phước Trà. Thời gian và những cải biến của con người đã phủ lấp dấu xưa nhưng trong trí nhớ của cựu phóng viên chiến trường vẫn còn nhớ như in từng góc rừng, từng con suối. Nhà văn Nguyễn Bá Thâm hồi tưởng: nơi này khi xưa gọi là làng Tuyên, nằm hai bên bờ sông Trà Nô, gồm 13 Tiểu ban gồm các bộ phận: Tuyên truyền, Huấn học, Báo Cờ giải phóng, Thông Tấn xã, Đài Phát thanh, Đài Minh ngữ, Văn nghệ, Điện ảnh, Nhà in, Các đoàn nghệ thuật (Đoàn văn công), Văn phòng… Ban Tuyên huấn Khu V ra đời từ tháng 5 năm 1960 cùng lúc với Ban Quân sự (năm 1961 là Bộ Tư lệnh Quân khu V), Ban Tổ chức, Văn phòng liên Khu ủy (gồm các tỉnh từ Quảng Trị vào tới Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên).

Có một chi tiết rất thú vị và đầy tự hào và là mốc son trong lịch sử cách mạng của Khu V là vào những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh, khi phải đối đầu trực diện với kẻ thù bằng con đường bạo lực như Nghị quyết 21 của Ban chấp hành Trung ương, tại nơi Khu ủy Phước Trà này, nơi sát mũi kẻ thù, nơi chỉ cách quận lỵ Quế Sơn, Thăng Bình chưa tới 40km, Khu ủy khu V đã tổ chức được Đại hội Đảng bộ Khu V lần thứ III từ ngày 15 đến ngày 22 tháng 12 năm 1973 với 264 đại biểu đại diện cho 47.000 đảng viên trong toàn khu. Nhà văn Nguyễn Bá Thâm nhớ lại: Đây là một điều kỳ diệu phản ánh đúng khái niệm “ý Đảng lòng dân”, trong sách lược chiến tranh nhân dân do Đảng ta lãnh đạo, củng cố hơn nữa niềm tin về ngày thống nhất đất nước. Đại hội đã đề ra những quyết sách quan trọng, những hướng phát triển mới của cách mạng. Tạo tiền đề thắng lợi cho việc giải phóng Nông Sơn – Trung Phước (18.7.1974), chiến thắng Đăk-pet, Đăk-lei (16.5.1974), chiến thắng Đình Cương, Minh Long (Quảng Ngãi) vào tháng 8.1974. Mở rộng hành lang vùng giải phóng Khu V và tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Và, kỳ lạ hơn cũng tại khu căn cứ này, nơi vùng đất hiểm yếu và lãng mạn này, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1974 Tiểu ban văn nghệ, Thuộc Ban Tuyên huấn Khu V đã mở được hai trại sáng tác cho các anh chị em đang công tác ở các cơ quan quân dân chính của khu có năng khiếu viết văn, làm thơ, vẽ tranh về dự. Nhà báo Hồ Duy Lệ là phóng viên Báo Giải phóng Quảng Đà được mời lên dự trại và được vinh danh trong đợt này.

Tôi đưa nhà văn Nguyễn Bá Thâm về lại khu di tích trên con đường mới Đông Trường Sơn chạy ngang qua địa phận hai xã. Anh cứ xuýt xoa mãi về con đường và nói sẽ cố gắng làm một chuyến đi trọn vẹn từ Thạnh Mỹ (Nam Giang) địa đầu nối với đường Hồ Chí Minh đến với Đà Lạt (Lâm Đồng) khi con đường hoàn thành. Anh bảo chỉ có đi sâu vào thực tế của đời sống nhân dân thì chất nghệ sĩ trong mình mới được tắm gội và đánh thức, trang viết mới có hồn, thấm đẫm chất liệu cuộc sống. Và, như thế mới có sức lan tỏa và cảm hóa được người đọc.

Chiều ở vùng sơn cước xuống rất nhanh. Toàn bộ khu di tích nhuộm tím một màu dưới những tàng cây lớn trong tiếng ve rừng miên man, sâu thẳm. Một chút lắng đọng, bâng khuâng rất lạ. Với gần 300 hiện vật gốc và tranh, ảnh đã được sưu tầm và trình bày, Ban Quản lý khu di tích Khu ủy Khu V trong nhiều năm qua đã cố gắng tái hiện lại những dấu vết xưa một cách chân thực và sống động. Đã từng có những binh đoàn sống lặng lẽ dưới những tán rừng này, có những con người tài năng hoạch định đường đi đến hòa bình cho dân tộc. Rồi những đêm lửa rừng, liên hoan đưa tiễn, có những mế già, cô gái giã gạo suốt đêm cho bộ đội “Ăn no mà đánh thắng”,… Kể sao hết những tấm lòng của nhân dân nơi đây trong những năm tháng chiến tranh. Họ sống giản dị, nhiệt tình và sắt son một lòng tin yêu cách mạng, sẵn sàng hy sinh tất cả cho cách mạng.

Sau khi thăm khu di tích và thắp nhang tại bia tưởng niệm Ban Tuyên huấn, nhà văn Nguyễn Bá Thâm ghé thăm một làng đồng bào dân tộc. Tôi đưa anh về làng đồng bào dân tộc Ca Dong thuộc thôn 5, xã Sông Trà. Chủ nhà là anh Hồ Văn Minh vui vẻ đón chúng tôi như những người thân quen lâu ngày gặp lại. Câu chuyện đưa chúng tôi trở về những ngày xa xưa. Ngày bà con còn ở trong rừng sâu khi xảy ra cuộc khởi nghĩa Làng ông Tía. Anh Minh kể: Trước đây chúng mình đều phải lui vào trong rừng sâu chứ chưa về được vì bọn địch hay ném bom, bắn pháo, đổ quân càn quét, đốt phá. Có năm chúng còn rải chất độc làm chết hết lúa, sắn, lợn gà của bà con. Bọn Mỹ – ngụy nó ác lắm bởi vì chúng thù mình đi theo cách mạng. Sau này, cả làng nghe cách mạng vận động nên mới về lại. Lúc về nhìn thấy bộ đội nhiều, được xem văn công, xem phim và được bộ đội hướng dẫn làm rẫy làm ruộng, dạy cho cái chữ cứ thấy vui, thấy sướng cái bụng lắm. Con cái làng mình lớn lên được đưa ra Bắc học tập, đi theo bộ đội nữa.

Rời nhà anh Hồ Văn Minh lúc trời cũng vừa chập choạng tối, chúng tôi đến nhà chị Hồ Thị Thơ, cô gái một thời được mệnh danh là con chim sơn ca của núi rừng Phước Sơn và là bạn của nhạc sĩ Dương Trinh thuở vượt Trường Sơn ra Bắc học tập tại Tân Lạc, Hòa Bình. Cuộc hội ngộ bất ngờ sau mấy chục năm mới gặp lại. Trong nỗi niềm vui mừng gặp lại bạn cũ, niềm vui khi hai xã Phước Trà và Sông Trà được công nhận là xã An toàn khu dường như sự xúc động làm chị nghẹn lời. Có quá nhiều điều để thổ lộ, để nhớ về. Nhạc sĩ Dương Trinh nắm chặt tay người bạn năm xưa và hẹn ngày gặp lại.

Chúng tôi về lại Tân An khi màn đêm bắt đầu buông xuống. Đèn đường rực sáng suốt quãng đường đi hơn 10km. Cuộc sống đã đổi thay quá nhiều. Trung tâm xã Sông Trà như một phố thị lung linh ánh đèn, xe cộ và hàng quán. Những ngôi nhà ven đường nằm ẩn mình dưới những vòm cây xanh. Khu vui chơi thể thao của xã rộn ràng trong giờ tập luyện dưới ánh đèn néon rực sáng. Bất chợt, tôi nghĩ không phải ngẫu nhiên mà các nhà lãnh đạo Khu V chọn nơi đây làm cứ địa để kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường khu V. Một tầm nhìn xa, táo bạo mang tầm chiến lược cho một vùng đất “ngã ba” có quá nhiều cơ hội để phát triển. Rồi đây, với vai trò là xã An toàn khu, Phước Trà và Sông Trà sẽ gánh trọng trách mới trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

T.B-D.Đ