Văn hóa Chăm ở Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn là một cụm núi đá vôi thấp nằm giữa vùng cát trắng, có chiều dài khoảng 2km, rộng 0,8km thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm TP. Đà Nẵng khoảng 7km về phía Đông – Nam. Qua những đợt khai quật khảo cổ học, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy dấu tích lưu trú của con người ở Ngũ Hành Sơn có từ rất sớm. Đặc biệt đây còn là nơi mà cư dân Champa xưa thờ cúng thần linh, thể hiện qua hình thức thờ linga-yoni, những tượng thần trên các bệ đá ở động Tàng Chơn và Huyền Không.

Bệ đá lối vào động Tàng Chơn

Động Tàng Chơn.

Động Tàng Chơn nằm trên ngọn Thủy Sơn, phía sau chùa Linh Ứng. Lối vào động chính có một con đường dẫn được lót bằng gạch. Động chính giống như một thung lũng nhỏ có chiều dài 10m, ngang khoảng 7m rất thoáng mát nhờ thông lên trời qua cửa Thiên Long Cốc, bên dưới được lót gạch Chăm. Nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện vật bằng đá có liên quan đến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm như linga-yoni và những bệ đá.

Người Chăm chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn Ðộ. Tôn giáo chính của họ là Ấn Ðộ giáo, thần Indra là “thần của các thần”, được tôn thờ ở khắp nơi. Bên cạnh thần Indra, người ta còn thờ ba vị thần của Ấn Ðộ giáo là Brahma, Vishnu và Siva. Tuy nhiên, khi Ấn Độ giáo du nhập vào vương quốc Champa, người Chăm lại đặt thần Siva lên trên hết, đồng thời thần Siva cũng được hòa với tín ngưỡng cổ truyền của họ. Trên các bi ký khắc chữ Phạn (Sanskrit) tại thánh địa Mỹ Sơn, các vua Champa đã tôn thần Siva là “chúa tể của muôn loài”, “là cội rễ của nước Champa”. Trong 128 bi ký quan trọng của Champa mà hiện nay được biết, thì có đến 92 bia thuộc tín ngưỡng Siva giáo. Các quốc vương của nước Champa xưa thường tự đồng nhất mình với thần Siva. Thậm chí cả nữ thần Po Inư Nagar cũng được thờ như một Sakti (âm lực) của thần Siva. Như vậy, thần Siva đã ảnh hưởng khá sâu đậm trong đời sống văn hóa của người Chăm và chi phối toàn bộ đời sống tâm linh của họ.

Theo thần thoại nguyên thủy, hình thức khởi đầu của thần Siva là cột lửa hình linga (dương vật). Hình tượng Siva được tôn thờ với nhiều hình thức khác nhau: dưới dạng nhân hóa (hình người) và dưới dạng biểu tượng linga hoặc mukhalinga (siêu nhân). Thần Siva thường được người Chăm thờ dưới hình thức ngẫu tượng sinh thực khí nam giới. Người ta quan niệm rằng, thờ linga (bộ phận sinh dục tượng trưng cho sức mạnh của phái nam, biểu tượng của khả năng tái tạo) tượng trưng cho thần Siva (nam tính) hiện thân qua nữ thần Uroja, còn được gọi là thần Núi, biểu hiện đặc tính dương. Hình tượng yoni (cơ quan sinh sản của phái nữ, biểu tượng của khả năng dưỡng dục) tượng trưng cho nữ thần Bhagavati (nữ tính) hiện thân qua nữ thần Visitrasaga là thần Biển, biểu hiện đặc tính âm. Trong vạn vật, âm dương là hai mặt đối lập, nhưng khi hai thuộc tính này tương giao với nhau sẽ tạo thành vạn vật, vạn vật sẽ sinh sôi, nảy nở. Thần Siva được mệnh danh là thần Hủy diệt. Theo quan điểm “thần luận”, sự hủy diệt của Siva là phá hủy cái cũ để sáng tạo cái mới. Do vậy, người ta coi thần Siva như là thần Sáng tạo, và có chức năng coi đầu Sinh và đầu Tử.

Bệ đá tìm thấy khi sửa động Tàng Chơn

Tại động Tàng Chơn, linga-yoni bằng đá được thờ rất trang trọng trong hang tối âm u. Linga ở đây có hai phần, phần trên là khối trụ lục giác nhỏ, phần dưới cũng là khối trụ lục giác nhưng lớn và dài hơn. Còn yoni là khối tròn, xung quanh trang trí hình vú phụ nữ căng tròn đầy sức sống, tượng trưng cho sự trù phú của vương quốc. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ linga – yoni của người Chăm gắn bó chặt chẽ với tục thờ đá trong hình thức thờ cúng các vật thiêng.

Như vậy, tín ngưỡng thờ linga – yoni tại Ngũ Hành Sơn là một nét văn hóa độc đáo của cư dân Chăm xưa. Nơi đây, thần Siva được tôn thờ là đấng sáng tạo và hủy diệt. Tại đây, người ta đặt hai bệ đá ở hai bên lối vào nơi thờ linga – yoni có trang trí hình hai Hộ Pháp của người Chăm như nhà khảo cổ học H. Parmentier miêu tả: Đó là “một loại lan can hàng loạt bằng đá chạm, gồm có hai nhóm đá bày ra một bậc thang chật hẹp. Hai nhóm đá phía dưới có một kiến trúc trang trí làm thành một bệ nền có đường gờ, trước chân bệ cắt ra một phù điêu hình cung nhọn hình ngọn lửa thường. Hai tảng đá bên trên, mỗi tảng thể hiện, trước một trang trí bằng những đường thẳng, một loại khám thờ hình vuông có hoa hòe. Hai cái khám này thờ hai chiến binh hay hai Hộ Pháp gần như là phù điêu vậy; hai tượng hầu như giống nhau; tượng bên trái thô nhám và rêu phong gặm nhấm, tượng bên phải trái lại tình trạng rất tốt. Tượng đứng trong tư thế chiến đấu; tay trái vung quả chùy, tay phải cầm thanh gươm hình như còn tra trong vỏ, có thể gươm này được đeo ở hông. Hình tượng này hoàn toàn rập khuôn; bộ ngực như thể đàn bà, phục sức và quấn khăn khá rắc rối; mũ hình chóp, vật trang sức là những khuyên tai lớn và một cái kiềng nơi cổ” (Albert Sallet, Ngũ Hành Sơn (Nguyễn Sinh Duy chuyển dịch và bổ chú), Nxb Đà Nẵng, 1996, tr.105).

Ngoài ra, trong lúc san lại nền hang, các vị sư chùa Linh Ứng đã phát hiện một bệ đá được trang trí cả 3 mặt. Mặt chính trang trí hình thần Indra (Thần Sấm sét, Thần Chiến tranh hay Thần Hộ mệnh, gọi chung là Dikapala) trong tư thế ngồi, cởi trần, mặc dhoti, đầu đội mũ, chân trái xếp bằng, chân phải co lên trước ngực, tay trái đặt lên đầu gối chân trái, khuỷu tay phải đặt lên đầu gối chân phải, đang ngồi trên mình voi, xung quanh thần có những đám mây bao phủ như hình ngọn lửa. Hai bên thần có hai vũ nữ Apsara đang múa nhưng quay lưng lại với thần. Hai mặt bên là hình hai vũ nữ Apsara, cũng trong tư thế múa. Bên dưới mỗi vũ nữ là một con sư tử đang ở tư thế ngồi. Ở mặt trước của bệ đá là hai con sư tử ngồi ở tư thế đối nhau nhưng mặt lại quay về sau. Còn hai con ở hai mặt bên thì mặt hướng về phía trước. Sư tử, được người Chăm gọi là Rimon, là hình tượng phổ biến trong điêu khắc Champa, đây là con vật không có ở vương quốc Champa nhưng hình ảnh của nó được các vua chúa Champa sử dụng như biểu hiện của vương quyền. Theo quan niệm của họ, sư tử biểu tượng cho quý tộc, cho sức mạnh vì theo truyền thuyết, sư tử là một trong mười kiếp hóa thân của thần Vishnu và đã giết được quỷ Hiraya Kapipu. Nhìn chung, bệ thờ này được trang trí độc đáo, thể hiện rõ những chi tiết trên thân tượng, là bệ thờ đẹp nhất được phát hiện ở Ngũ Hành Sơn cho đến nay.

Động Huyền Không.

Động Huyền Không cũng nằm trên ngọn Thủy Sơn. Từ cổng chùa Tam Thai, rẽ trái theo đường dẫn đến động Hoa Nghiêm, phía bên trái của động Hoa Nghiêm có một lối đi xuống 15 bậc cấp, đó là động Huyền Không. Động này rộng và cao, trên trần có một lỗ thông thoáng khá lớn, ánh sáng theo đó tràn vào làm cho động thêm lung linh huyền ảo, vách động lồi lõm, thạch nhũ chảy dài xuống tạo thành nhiều hình thù lạ mắt… Hai bên bậc cấp lối đi xuống có có tượng Tứ Hộ pháp. Trên cao chính giữa là tượng Phật Thích Ca (trước đây là tượng Ngọc Hoàng); bên dưới là bàn thờ Địa Tạng; bên phải có miếu thờ Lồi Phi; bên trái có miếu thờ Ngọc phi. Hai bên vách động còn thờ tượng Phật, Quan Công, Tam Đa, Thập Điện Minh Vương…

Động Huyền Không là động lớn và đẹp nhất trong các động ở Ngũ Hành Sơn. Nơi đây còn lưu lại vết tích và di vật về tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Champa xưa. Thể hiện qua hình thức thờ nữ thần Po Inư Nagar và bệ đá được chạm trổ công phu gần lối xuống động.

Tượng của nữ thần Po Inư Nagar được tôn trí trong một cái miễu, nguyên là công trình của một góc núi đá cẩm thạch, bên trong thờ tượng của bà được tráng một lớp sơn với nhiều màu sắc, những chi tiết chạm khắc rất mờ nhạt. Hai tai trái của bà to và trĩu nặng xuống, tóc dường như dựng đứng lên, thế ngồi theo phong cách Ấn Độ. Theo bác sĩ Albert Sallet đó là “vị thần hảo tâm có nhiều cảm ứng hiển hiện mà những sự phán xét có lẽ được chấp nhận nhiều hơn, và nhất là cự tuyệt những lời thề giả dối, vị lương thần có nhiều biểu hiện quyền năng. Bà ban ân huệ và hiển linh. Dân chúng thường gọi bà là Bà Chúa Ngọc”.

Bệ đá trong động có hình chữ L, cao 70cm, dài 80cm, khuyết góc bên phải 3,5cm x 40cm. Bệ đá phía trên cùng trang trí hình chim thần, đây là con vật biểu trưng của thần Vishnu, tượng trưng cho sự bình an. Bên dưới là hình một vị thần đang ở tư thế một chân co, một chân duỗi, hai tay nâng một vật đưa về phía trước như dâng cúng cho ai đó. Phía trước là vị thần đầu sư tử, mình người đang đứng quay lưng lại. Nhìn chung, bệ đá được chạm trổ khá tinh xảo, là một trong những tác phẩm độc đáo của cư dân Champa còn lưu lại ở Ngũ Hành Sơn.

Có thể nói, Ngũ Hành Sơn nằm trên một vị trí khá thuận lợi, có địa hình bằng phẳng bên hữu ngạn sông Cổ Cò, trên núi có nhiều lâm sản và các động vật quý hiếm, dưới biển có nhiều thủy hải sản, đó là những nguồn hàng trao đổi có giá trị của người Chăm xưa với việc giao lưu với các vùng miền khác. Nói một cách khái quát như ý của cố GS. Trần Quốc Vượng thì “Ngũ Hành Sơn từng là một Làng/ Bến/ Thị tứ nhỏ nằm dưới chân những ngọn núi cẩm thạch, soi bóng xuống dòng sông Cổ Cò”.

Những dấu tích văn hóa của cư dân Champa xưa còn lưu lại ở động Tàng Chơn, động Huyền Không trong ngọn Thủy Sơn của Ngũ Hành Sơn là những hiện vật vô cùng quý giá đối với những ai nghiên cứu về lịch sử, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật của nền văn hóa cổ Champa.

V.H.A