Trần Cao Vân qua lời kể của một vị quan triều Nguyễn

BOX: Trong tác phẩm “Đứa con phù sa”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết: “Cuộc đời Trần Cao Vân như mọi người đều biết, là một trái tim yêu nước đến vỡ máu cho tới khi dập nát, đối diện với một chuỗi dài những gian khổ và tù đày tưởng như giặc Pháp đã chọn và dành riêng cho ông. Hai mươi tuổi từ biệt gia hương để tìm đường cứu nước. Hai mươi sáu tuổi vào Bình Định chuẩn bị căn cứ chống Pháp. Ba mươi hai tuổi ở tù ngục Phú Yên vì tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa “Giặc Rựa”; ba mươi bốn tuổi vào ngục Bình Định và Quảng Nam vì tư tưởng “Trung Thiên Dịch”. Bốn mươi hai tuổi ở tù Côn Đảo vì Phong trào chống thuế. Năm mươi tuổi hy sinh ở bãi chém An Hòa, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Duy Tân. Ba mươi năm chiến đấu dẫm lên hoạn nạn, chủ nghĩa yêu nước đã được Trần Cao Vân đúc kết thành tuyên ngôn và hiệu triệu hành động, vừa trả lời giặc: “Đất sinh người tài giỏi, có quyền đuổi giặc thương dân”.

 

Trong các sách sử đều ghi ông sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là một trong những người cầm đầu khởi nghĩa tại Trung Việt, do Việt Nam Quang phục hội chủ xướng. Trần Cao Vân rất nổi tiếng về văn chương thi phú. Tham gia khởi nghĩa cùng Võ Trứ ở Đá Bạc tỉnh Bình Định bất thành, bị bắt đi tù ở Phú Yên. Ông là người nêu thuyết Trung Thiên Dịch bàn về con người, khiến thực dân Pháp phải lo lắng, nhân cuộc dân biến 1908, để phòng xa, thực dân Pháp đã bắt ông và đưa đi đày Côn Đảo 6 năm.

“Khúc Tiêu Đồng” – Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, người cùng quê với Trần Cao Vân

Đó là lược sử của Trần Cao Vân được ghi chép ở nhiều tư liệu lịch sử giai đoạn này. Tuy vậy, hành tung của con người “Chí quyết tang bồng vỗ bốn phương” này vẫn còn nhiều điều bí ẩn. Theo cố nhà báo Nguyễn Trương Đàn, người đã dành hơn 10 năm nghiên cứu về Trần Cao Vân và cuộc khởi nghĩa Duy Tân, ngay như nhà báo Phan Khôi, một cây bút nổi tiếng và sắc sảo và cùng là người đồng hương gần gũi với Trần Cao Vân vẫn không nhìn nhận đúng về tâm thế cách mạng và vai trò quan trọng của Trần Cao Vân trong cuộc khởi nghĩa Duy Tân 1916.

Thật may mắn mới đây khi đọc hồi ký “Khúc tiêu đồng” của cụ Hà Ngại, một vị quan triều Nguyễn qua hiệu đính của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân và Nguyễn Đắc Xuân tôi đã tìm thấy những tư liệu viết về Trần Cao Vân có thể nói là rất chân thật. Bởi tác giả Hà Ngại (tức Nguyễn Thược) sinh 1890 tại làng Phú Quý – Na Khom, nay là xã Điện Quang, Điện Bàn là người cùng quê với Trần Cao Vân. 22 tuổi, Hà Ngại đã đỗ cử nhân, sau đó được bổ Chánh Án sát ở nhiều tỉnh trong cả nước. Về Hán học, ông thi đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý 1912 tại trường Thừa Thiên. Về Tây học, ông tốt nghiệp trường Hậu Bổ ở Huế do người Pháp dạy. Tốt nghiệp được thăng hàm Trước tác (6/2), trong khi các cử nhân khác chỉ được thăng hàm Tu biên (2/2). Sau đó ông được bổ vào học tập chính sự và làm Hậu bổ ở tỉnh Bình Định.

Tác giả cuốn hồi ký cho hay, gia đình Trần Cao Vân ở làng Tư Phú, cách gia đình tác giả không đầy hai km và là bạn học của cha tác giả. Cụ Trần học giỏi và rất tinh dịch lý. Cụ đoán quẻ và tiên tri nhiều việc. Riêng tác giả cuốn sách thì chưa chứng minh thực hư điều này, chỉ có một việc ông chứng kiến và ông đã kể. “Năm ấy cụ ở Côn Lôn về, chính quyền bắt cụ phải làm nhà ở trong thành tỉnh Quảng Nam. Có lẽ để dễ bề kiểm soát. Lúc tôi thi đỗ về nhà chừng hơn nửa tháng, ngày kia cha tôi bảo: Ông Trần Cao Vân là bạn với cha, con xuống thăm cho phải phép. Cha con cùng đi xuống tỉnh, vào đến góc đường của thành thấy cụ Trần chít khăn nâu, mặc áo rộng nâu, đứng chực ai sẵn ở đó, cha tôi hỏi. Anh làm chi mà đứng ở đây? Cụ Trần trả lời: Tôi làm quẻ biết ngày này, giờ này có quý nhân đến, nên ra đón rước.

Rồi cụ hỏi: Đây là ông Cử mới phải không? Cha tôi đáp: Dạ phải. Rồi hai người dắt tay nhau về nhà cụ, trà nước, ăn cơm. Ngoài những chuyện hàn huyên, thì chúng tôi không nghe cụ nói về chính trị. Thật ra cả đời cụ Trần Cao Vân chỉ biết làm chính trị. Cụ hay ở Bình Định, ít khi về Quảng Nam. Ở Bình Định, học trò cụ nhiều lắm. Nhất là các hạt Phù Cát, Phù Mỹ. Trong vụ khất sưu, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện đều bị đày ra Côn Lôn, mà riêng cụ còn bị giải về Bình Định kết án sau đó mới đày Côn Lôn. Lúc được tha, cụ cũng hay về làng Tư Phú và các làng lân cận, tôi thường gặp cụ đi đó, đi đây để làm thầy địa (kiếm ngôi mả tốt cho các chủ nhân) mà tôi chắc cụ không hoàn toàn vì mục đích làm địa.” Đó là những dòng hồi ký tác giả Hà Ngại viết in tại các trang 113, 114, 115, sách “Khúc tiêu đồng”. Những chuyện hoàn toàn tai nghe mắt thấy ông thuật về cụ Trần với tư cách kẻ hậu bối.

 

Để dập tắt các phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của vua Duy Tân và 2 nhà yêu nước xứ Quảng Thái Phiên – Trần Cao Vân, thực dân Pháp đã tổ chức truy bắt, đàn áp và xử tử hình nhiều người yêu nước trải khắp từ Quảng Bình đến Bình Định. Theo số liệu chưa đầy đủ của Tòa Khâm sứ Trung kỳ thì tính đến ngày 1.6.1916, ở Quảng Ngãi có 186 người bị bắt, 72 người bị kết án, trong đó 10 án tử hình, 27 án trảm treo; ở Quảng Nam có 155 người bị bắt và kết án, trong đó có 5 án tử hình; ở Huế có 73 người bị bắt, trong đó có lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu, Tôn Thất Đề bị án chém tại pháp trường An Hòa. Riêng vua Duy Tân bị giam ở nhà tù đồn Mang Cá.

Vào ngày 20.5.1916, trước khi rời Đông Dương để về Pháp, Toàn quyền Roume tổng hợp lại biến cố tháng 5/1916 trong đó có nhắc lại quyết định số phận vua Duy Tân tại cuộc họp vào lúc 9 giờ sáng ngày 10.5, Roume đã đề nghị phế truất lập tức vua Duy Tân, đưa hoàng tử Bửu Đảo con vua Đồng Khánh lên ngôi vua. Đưa Duy Tân ra khỏi Đông Dương và lưu đày tại Madagascar như người cha của ông ta là vua Thành TháiTác giả Hà Ngại kể khi ông vào Hậu bổ Bình Định, nghĩa là sau biến cố đời vua Duy Tân đã mấy năm, cụ Trần Cao Vân đã bị Pháp xử tử ở Huế lâu rồi, thế mà ngày kia quan Tổng đốc Bình Định tiếp được một mật thư của Tòa sứ đưa lên tỉnh nói: “Vợ con Trần Cao Vân hiện ở trong dân, thuộc huyện Phù Cát, Tỉnh phải phát người ra đó bắt”. Quan Tổng đốc Võ Liêm phái Hà Ngại đi bắt. Ông đã đến huyện gặp tri huyện là Kiều Hữu Tỷ vốn đồng niên nên dễ dàng thưa chuyện. “Bà này ở gần nhà tôi, chồng bà chết vì việc nước. Chúng ta nên đối đãi với bà cho có lễ độ”. Quan huyện đồng ý. Chúng tôi đến nhà trọ bà ấy bày tỏ đầu đuôi và mời mẹ con bà về tỉnh. Quan Tổng đốc trải chiếu mời mẹ con bà ngồi (đó là một đặc ân ít thấy thời ấy) và lấy cung khai. Mẹ con bà khai: “Chúng tôi vì nghèo túng nên đến nhà mấy người học trò cụ Trần vay mượn chút ít tiền, không có mục đích gì khác”. Quan Tổng đốc cho giữ mẹ con bà ở nhà thị sự là nhà lính. Bà ấy trên 50 tuổi, con gái trên 20 tuổi, nói năng hoạt bát tỏ ra người hiểu biết nhiều. Tôi có giúp chút ít tiền và dặn lính giúp đỡ họ.”

Chuyện của bà chỉ có vậy. Thế mà Tòa sứ nghi ngờ hỏi đi hỏi lại, mãi vài tháng mới được đưa về Quảng Nam. Sau đó một năm Hà Ngại được bổ làm tri huyện Phù Cát. Đến nơi quen biết dân tình ông mới bất ngờ hiểu ra người dân ở Phù Cát tưởng nhớ cụ Trần nhiều lắm. Người ta phục cụ, trọng cụ, và yêu cụ, cho đến nỗi nhiều gia đình giỗ cụ như đối với thần linh. Nhưng họ cẩn thận sắm lễ vật và viết văn tế rồi đợi nửa đêm mới bày ra cúng tế. Thế mà chưa hết, còn có một nguồn dư luận riêng với nhau trong bóng tối: Cụ Trần còn sống chứ chưa chết đâu!

Tác giả cuốn sách nêu suy nghĩ: “Những sự kiện trên đây chứng tỏ khi tôi mới mở mắt chào đời cho đến khi tôi lớn thì có biết bao nhiêu danh nho chí sỹ đã đứng lên không chỉ làm rạng rỡ một tỉnh Quảng Nam mà còn vang tiếng cho cả nước”. Kết thúc bài viết này cũng xin nêu thêm điều đáng quý về tác giả cuốn sách, người đã cung cấp thêm những tư liệu quý về Trần Cao Vân. Cụ Hà Ngại làm quan trong bối cảnh triều Nguyễn chỉ là tay sai của thực dân Pháp nhưng dẫu vậy cụ cũng giữ được nhân cách, lòng tự trọng, biết thương dân đen và cố gắng giúp họ trong điều kiện có thể. Cụ Hà Ngại từng kinh qua nhiều chức quan ở nhiều tỉnh, riêng Kon Tum ông làm Tuần vũ thời gian dài đến tháng 8 năm 1945, ông giao chính quyền cho cách mạng và được về nghỉ tại thành nội Huế dạy học cho đến lúc sức khoẻ giảm sút rồi mất tại TP. Hồ Chí Minh. Cuốn hồi ký Khúc tiêu đồng chứa đựng những tư liệu quý về giai đoạn chuyển tiếp của xã hội Việt Nam khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ, tư liệu về chốn quan trường Nam triều, chuyện học chữ Nho, chuyện khoa cử, tư liệu về làng quê Quảng Nam thời bấy giờ… Đấy là những tư liệu cần thiết cho những ai làm công tác khảo cứu, sáng tác… về giai đoạn lịch sử này.

                                                                                                                V.V.T