Tổng trấn Nguyễn Phúc Kỳ với Quảng Nam

Nguyễn Phúc Kỳ là con trai trưởng của Hy Tông Hoàng đế Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) và Hiếu Văn Hoàng hậu Mạc Thị Giai (1578-1630). Ông sinh năm nào không rõ (có tài liệu viết vào thời Thái Tổ Gia Dũ Hoàng đế trong khoảng 1597-1598) tại Trà Bát, huyện Vũ Xương, tỉnh Quảng Trị dưới thời chúa Nguyễn Hoàng, ông mất năm 1631.

Toàn cảnh mộ Nguyễn Phúc Kỳ

Vợ ông là bà Tống Thị Toại, một phụ nữ có nhan sắc, là con gái của Cai Cơ Mậu Lễ Hầu Tống Phước Khang quê ở Đàng Ngoài. Bà Tống Thị Toại sinh được 3 hoàng tử là Nguyễn Phúc Nhuệ, Nguyễn Phúc Xuân, Nguyễn Phúc Tài cả ba người sau khi lớn đều trở thành Chưởng Dinh. Dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng và khi thân phụ Nguyễn Phúc Nguyên đang làm Trấn thủ dinh Quảng Nam (1602-1613), Nguyễn Phúc Kỳ được giao chức Chưởng Cơ chỉ huy đạo quân bảo vệ ở Dinh trấn Thanh Chiêm. Năm 1613, chúa Tiên băng hà, Trấn thủ dinh Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi chúa (Sãi Vương) và ra sống ở phủ tại Trà Bát, Quảng Trị. Năm 1614, chúa Sãi phong chức Hữu Phủ Chưởng Phủ Sự cho Nguyễn Phúc Kỳ và giao thay mình làm làm Trấn thủ Quảng Nam.

Trong thời gian làm Trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Phúc Kỳ lấy thêm bà vợ thứ là Bùi Thị Phượng (còn gọi là Bùi Thị Thuận), sinh ra hoàng tử Nguyễn Phúc Trí. Do có đức hạnh là người hiền thục, được chồng hết mực yêu chiều nên bà trở thành Nhất phu nhân. Để tự lực tự cường đối phó với Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn thực hiện chính sách mở cửa giao thương, không chỉ cho phép người bản địa giao thương với các nước trong khu vực và cả các nước phương Tây mà còn nhiều lần gửi thư mời gọi các thương nhân Nhật Bản. Trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ đã hai lần viết thư gửi Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Malacca, Malaysia và Batavia, Indonesia đến buôn bán ở thương cảng Hội An.

Tiếp thu những di sản của cha ông, khi làm Trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Phúc Kỳ chuyên tâm, sáng tạo vận dụng linh hoạt chính sách mở cửa của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, từng bước đưa Hội An trở thành một cảng thị trung tâm trung chuyển mậu dịch quốc tế ngày một hưng thịnh. Đồng thời, ông cũng rất thân thiện với các nhà truyền giáo phương Tây, tạo điều kiện thuận lợi cho Quảng Nam trở thành cái nôi hình thành chữ Quốc ngữ. Vào thời Nguyễn Phúc Kỳ, thuyền buôn của Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và một số thuyền buôn của phương Tây tấp nập cập bến Hội An. Jean Pichon đã miêu tả Hội An là: “Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc Quảng Nam…”. Và: “Ở Hội An diễn ra một hội chợ hàng năm kéo dài 4 tháng… Dinh trấn Quảng Nam ở cách đó 8km về phía Tây, nối liền đường thiên lý và con sông, là thủ phủ của dinh, vào thời điểm đó người ta có thể gọi là thủ phủ hoàng gia bởi vì Sãi Vương thường ở đó, một trong những người con của ngài là hoàng tử Kỳ làm quan trấn thủ…”.

Chỉ riêng việc buôn bán với thương nhân Nhật Bản, theo bảng thống kê điểm đến của thuyền Châu Ấn ở Đông Nam Á từ năm 1604 đến 1635 trong “Nghiên cứu phố Nhật ở Nam Dương” của giáo sư Iwao Seiichi, tổng số giấy phép có đóng dấu của Mạc Phủ Nhật Bản được phát cho các thuyền buôn Nhật tới các hải cảng ở Đông Dương để mua bán là 356 chiếc: đến Đàng Trong 87 chiếc, chiếm 24,4%; Đàng Ngoài 37 chiếc (10,4%). Số khác đến Thái Lan, Campuchia. Như vậy, số thuyền đến Đàng Trong (87 chiếc) chiếm ¼ tổng số thương thuyền Nhật (356 chiếc) đã tới các hải cảng ở Đông Nam Á trong vòng 31 năm (cũng theo giáo sư, ở thời kỳ này loại tàu của Nhật có sức chứa từ 300 đến 600 tấn. Như vậy, thuyền Châu Ấn có thể chở từ 4 – 5.000 kg tơ sống cùng với nhiều loại hàng hóa khác. Trung bình hàng năm, người Nhật mang đến Hội An khoảng 2.500 – 3.000 quan bạc, các loại vũ khí (gươm, giáo), hàng sơn, ngũ cốc, cá ngựa, đồng, lưu huỳnh và những kim loại quý. Các mặt hàng này có lãi suất cao, vì xứ Đàng Trong rất hiếm nên họ càng được sự ưu ái của Trấn Thủ Quảng Nam và chúa Nguyễn. Hàng mua về là tơ lụa, đồ gốm, trầm hương, ngà voi, sừng tê giác, xà cừ, nhựa thông, da trâu, gân hươu, yến sào, hạt tiêu, đường, gỗ quý,…). Theo tài liệu khác, một số tàu đến Hội An không có giấy phép (trốn đi), hoặc những tàu qua lại trên biển Đông, đã ghé vào cảng thị Hội An. Thương thuyền Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm La, Philippines, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp đã đến Hội An buôn bán. Theo nhà truyền giáo Christoforo Borri thì “Người Trung Quốc và Nhật Bản là thương khách chủ yếu trong hội chợ, năm nào cũng mở và kéo dài gần 4 tháng ở Hội An”. Một số còn được cử ở lại Hội An để mua sắm tích trữ hàng hóa cho thuyền mình sang năm tới chở về. Họ được Trấn thủ dinh Quảng Nam và các chúa Nguyễn chấp nhận, cho phép cư trú. Christoforo Borri viết: “Vì muốn tiện cho việc họp hội chợ, Vua Cochin – Chine đã cho phép người Nhật Bản và Trung Quốc lựa chọn một nơi thích hợp để xây dựng một thành phố. Thành phố này gọi là Faifo. Nó lớn đến mức có thể nói rằng có hai thành phố, một của người Nhật, một của người Tàu”. Đầu thế kỷ XVII, Phố Nhật đã có đến gần 1.000 người. Đến năm 1637, do Mạc Phủ Nhật Bản cấm công dân họ ra nước ngoài nên người Hoa dần dần thay thế vị trí, đến cuối thế kỷ XVII, Phố Hoa ở Hội An đã có đến hơn 6.000 người. Điều này cho thấy cảng thị Hội An đã chiếm giữ trong lịch sử thương nghiệp thời kỳ trung đại ở khu vực Đông Nam Á là hết sức lớn và đồng thời cũng chứng tỏ công lao của Trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ trong vai trò đặt nền móng, củng cố chính sách mở cửa và khích lệ người ngoại quốc đến xứ Quảng, Hội An.

Hội An với chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là vô cùng quan trọng nên mặc dù ở ngôi vị Chúa, ông vẫn vào Thanh Chiêm vừa để quan sát nhằm củng cố chính sách phát triển kinh tế, vừa để dẫn dắt con trai Nguyễn Phúc Kỳ cho kế sách lâu dài, đặc biệt là trong công tác đối ngoại. Vì vậy, ngoài phát triển kinh tế thương mại với nước ngoài, Nguyễn Phúc Kỳ đặc biệt ưu ái thân thiện với các giáo sĩ phương Tây. Tác giả Nguyễn Hồng trong sách Lịch sử truyền giáo có đề cập: “Làm quan trấn thủ Quảng Nam ông có cảm tình với đạo, đã nhiều lần bênh vực cho các cha”. Nhờ đó, các giáo sĩ như  Francisco de Pina, Alexandrede Rhodes có điều kiện sống một thời gian dài ở Hội An và Thanh Chiêm từ 1617 đến 1625 kết hợp cùng các quan lại và giáo dân thực hiện việc La tinh hóa tiếng Việt để cho ra đời chữ Quốc ngữ.

Là người văn võ toàn tài, năm 1627, Nguyễn Phúc Kỳ trực tiếp cầm quân phối hợp với Nguyễn Hữu Duật, Nguyễn Phước Vệ đánh bại cuộc tấn công lần thứ nhất của Trịnh Tráng vào Đàng Trong. Sau chiến thắng này, Nguyễn Phúc Kỳ được phong làm thế tử, chuẩn bị để sau này nối ngôi. Năm 1629, Nguyễn Phúc Kỳ nhiều lần cùng người anh rể Mạc Cảnh Vinh (Nguyễn Phước Vinh) đưa quân chinh phạt Chiêm Thành, bảo vệ vững chắc Phú Yên, giữ yên biên giới phía Nam lập nên dinh Trấn Biên cũng là dinh trấn thứ 8 của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Khi bà Bùi Thị Phượng qua đời vào ngày 14.3.1631, Nguyễn Phúc Kỳ cũng lâm bệnh qua đời sau đó 3 tháng (22.7.1631). Sách Lịch sử truyền giáo của Việt Nam viết: “Năm đó không may người thiếp mà ông yêu mến hơn cả qua đời. Thương tiếc suốt ngày đêm than khóc, ông cho làm một bức tượng lớn bằng người thật, đầu bằng bạc, mình bằng gỗ quý để thờ. Không bao lâu sau vì buồn phiền quá ông ngã bệnh và qua đời. Sãi Vương thương tiếc khóc lòa cả mắt…”. Tang lễ Nguyễn Phúc Kỳ vào thời đó đã có hàng ngàn người từ các nơi về dâng hương, tiếc thương, trong đó có rất nhiều thương nhân nước ngoài.Sau khi qua đời, Nguyễn Phúc Kỳ được an táng ở làng Thanh Quýt (nay là xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn). Lăng mộ của ông tồn tại hơn 350 năm tại đây. Đến sau năm 1975, do phong trào hợp tác hóa nông nghiệp lăng của Nguyễn Phúc Kỳ bị phá để lấy đất làm nông nghiệp.Đến năm 2000, con cháu Nguyễn Phước tộc Quảng Nam – Đà Nẵng cải táng mộ ông về nơi hiện nay ởxứ Ba Truông thuộc thôn Chiêm Sơn, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên gần nhà máy thủy điện Duy Sơn II.

Khu lăng mộ Trấn Thủ Quảng Nam Nguyễn Phúc Kỳ đã được di dời từ Thanh Quýt, Điện Bàn về vị trí hiện nay và còn lưu giữ được tấm bia cổ và một số chi tiết kiến trúcxưa, góp thêm giá trịcho một công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí cổ, đây là điểm đến cho những ai quan tâm tìm hiểu thêm về danh nhân đất Quảng.

N.T.T