Tiểu thuyết Phan Tứ – Nỗi khát vọng cuối đời

Phan Tứ viết nhiều thể loại (phóng sự, bút ký, truyện ký, truyện ngắn, dịch thuật), nhưng thành công chủ yếu là tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng. Với bút danh Lê Khâm, thời còn là sinh viên khóa 3 ngành Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông đã cho ra mắt hai tiểu thuyết Bên kia biên giới (1958) và Trước giờ nổ súng (1960), viết về quân tình nguyện Việt Nam ở chiến trường Hạ Lào. Trở lại chiến trường miền Nam thời chống Mỹ, với bút danh Phan Tứ, ông lần lượt cho ra đời các tiểu thuyết Gia đình má Bảy (1968), Mẫn và tôi (1972), Trại ST18 (1974). Sau 1975, thời hòa bình thống nhất, ông “đánh vật” với bộ tiểu thuyết sử thi dài 3 tập Người cùng quê (1985, 1995, 1997), trong tình trạng phải chống chọi với cơn bạo bệnh hiểm nghèo. Nhìn lại chặng đường tròn bốn mươi năm cầm bút của Phan Tứ, với 3 tập ký, 3 tập truyện ngắn và bấy nhiêu tiểu thuyết chưa thể gọi là đồ sộ với tòa ngang dãy dọc, nhưng đã góp phần quan trọng vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, nhất là ở góc nhìn thể loại, cần phải được ghi nhận.

Tiểu thuyết của Phan Tứ là tiểu thuyết viết về chiến tranh và tiểu thuyết sử thi, viết về chiến trường Hạ Lào và Quảng Nam, rộng hơn là Liên khu Năm, quê hương của tác giả. Nói đến tiểu thuyết là nhằm khẳng định khả năng phản ánh hiện thực của nó. Cũng tuân thủ qui luật phản ánh, nhưng Phan Tứ có cảm quan về bức tranh hiện thực một cách xác tín, tạo nên một thi pháp nghệ thuật tương ứng, khi ông cho rằng: “Bức tranh cần cả màu sáng lẫn màu tối, bản nhạc cần có nốt thanh lẫn nốt trầm” [Phan Tứ, Về một vùng văn học, Viện Văn học- Hội VHNT QNĐN 1983, tr.86]. Đó là quan niệm nghệ thuật chi phối suốt cả chặng đường sáng tác của Phan Tứ, thể hiện rõ nhất trong tư duy tiểu thuyết của nhà văn.

Ngay từ những tiểu thuyết đầu tay Bên kia biên giới Trước giờ nổ súng được sáng tác vào thời điểm mà không ít tác giả hoặc có xu hướng “tô hồng” hiện thực hoặc chọn lựa những mảnh đất vốn đã có sẵn phù sa màu mỡ thắm hồng, thì Phan Tứ đã tỉnh táo tìm đến những mảng màu đa sắc, những tồn tại đối lập mang tính biện chứng của quy luật cuộc sống. Trước giờ nổ súng có sự đan xen giữa cái tốt và cái xấu, cái anh hùng và sự hèn nhát, những thuận lợi và những khó khăn. Ở đơn vị CC3 của quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ trinh sát, chuẩn bị cho mặt trận mở chiến dịch đánh đồn Pà Thạc (Lào) bộ đội phải trải qua nhiều gian nan thử thách và tổn thất nặng nề: bị địch phục kích, thiếu gạo, thiếu nước, mất điện đài không liên lạc được, nội bộ phân hóa, người thì giảm sút ý chí đi đến tự sát, người bị sa vào tay giặc, kẻ đào ngũ, người hy sinh… Chỉ còn một người duy nhất đem được tài liệu về tới mặt trận trước giờ nổ súng! Hoàn cảnh nghiệt ngã ấy được ông tiếp tục đặt ra trong phạm vi câu chuyện một gia đình (Gia đình má Bảy) có bốn mẹ con từng hăng hái tham gia công tác cách mạng trong thời kháng chiến chống Pháp, người con đầu là Hai Son đã hy sinh trong trận đánh đồn Tây. Sau 1954, dưới sự kiềm kẹp và khủng bố của chính quyền mới, họ sống cầu an trong nghèo khó và tủi hổ… Rồi cách mạng về, đánh thức ngọn lửa yêu nước và trung kiên của má Bảy và các con cháy bừng lên, má tham gia đồng khởi, công tác trong hội mẹ chiến sĩ, đi đầu trong các cuộc xuống đường đấu tranh chính trị, con trai thứ của má là Tư Sỏi trở thành xã đội phó, được kết nạp Đảng rồi được điều về tiểu đoàn chủ lực, Út Sâm được đề bạt làm xã đội phó. “Chính những người nghèo khổ như má Bảy thức tỉnh trước hết, tự tay đốt lên từng ngọn lửa nhỏ trong đêm đen, rồi những chấm sáng rải rác ấy họp lại làm nên ánh rạng đông đỏ chói, mở đầu cho ngày nắng đẹp trên trái đất và trong mỗi cuộc đời” [tr. 34, những trích dẫn đánh số trang là trích từ tác phẩm của Phan Tứ]. Lớn hơn câu chuyện một gia đình, thông qua quá trình diễn biến tư tưởng của ba mẹ con, tác giả đã thể hiện rõ quá trình diễn biến tư tưởng và hành động của quần chúng cách mạng xã Kỳ Bường, của nhân dân cách mạng miền Trung Trung Bộ và rộng hơn, của cả miền Nam trong bước ngoặt lịch sử trọng đại thời kỳ đồng khởi. Gia đình má Bảy “là quyển tiểu thuyết đầu tiên phản ánh cuộc đồng khởi của nhân dân miền Nam” [Thanh Quế, Phan Tứ như tôi biết, Nxb Văn học 2015, tr.203]. Đúng như nhan đề Mẫn và tôi, tác giả đã đầu tư năng lực nghệ thuật để tập trung xây dựng hình tượng hai nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là “Tôi” (tức Tư Thiêm), đại đội phó bộ đội chủ lực và “Mẫn” (tức Hai Mẫn), chi ủy viên kiêm bí thư xã đoàn thanh niên Tam Sa rồi đảm nhiệm trọng trách bí thư chi bộ kiêm xã đội trưởng, đảng ủy viên của cả một khu vành đai giáp mặt với giặc Mỹ gồm mười hai xã. Thông qua các sự kiện diễn ra ở làng Cá, xã Tam Sa, cuốn tiểu thuyết còn mở ra một bối cảnh chiến trường rộng lớn ở miền Trung Trung Bộ, gồm nhiều địa bàn như đô thị, đồng bằng, rừng núi chi phối nhiều số phận con người khác nhau, trong thời điểm có cuộc chạy đua căng thẳng giữa ta và địch nhằm giành thế đứng ở vành đai quanh căn cứ Chu Lai. Đó còn là cuộc đấu tranh trong nội bộ, chống tư tưởng hữu khuynh, lưng chừng, bè phái, cơ hội… So với những tiểu thuyết trước của Phan Tứ, Mẫn và tôi có sự mở rộng chủ đề và dung lượng hiện thực, lý giải được thắng lợi rực rỡ của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Trại ST.18 là tiểu thuyết viết dưới hình thức nhật ký một phóng viên, tác giả tái hiện chân thực và sinh động những sự kiện, tình tiết trong một đơn vị đặc biệt, một trại giam tù binh Mỹ biệt lập giữa rừng Trường Sơn. Là một mặt trận mới, một cuộc chiến đấu mới giữa ta và địch, nhằm khẳng định tinh thần yêu nước chính nghĩa và kẻ xâm lược phi nghĩa, nêu cao tầm văn hóa nhân văn của truyền thống dân tộc, đánh thức thiên lương trong mỗi con người sai đường lạc lối: “Ta càng đổ máu thì càng khát khao thêm bạn bớt thù, ta càng nắm chắc phần thắng thì càng đối xử cao thượng với kẻ đang hoặc sẽ thua trận, ta càng nhân đạo thì chính nghĩa của ta càng tỏa sáng trên dải đất này” [tr. 118].

Người cùng quê là tiểu thuyết cuối cùng của Phan Tứ, viết trong trạng thái “vật lộn với tử thần từng giờ, từng phút để có thể viết tiếp tác phẩm Người cùng quê, khi không thể viết được nữa, anh đọc cho vợ – chị Thảo – viết, có khi chỉ đọc được vài câu lại phải dừng, cắn răng chịu đựng sự hành hạ khốc liệt của cơn bệnh” (Đặng Minh Phương, Ký ức về Phan Tứ, Nxb Hội Nhà văn 2009, tr.341). Đây là cuốn tiểu thuyết đồ sộ và quan trọng nhất trong cuộc đời cầm bút của tác giả, được ông chuẩn bị từ thời còn chiến tranh (1974), đề cương gồm 4 tập, phản ánh bức tranh xã hội cả một vùng quê rộng lớn bao quát cả miền Trung, xuyên gần suốt thế kỷ XX, với mong muốn “cố gắng thể hiện những biến cố lịch sử lớn nhất của đất nước”, đồng thời phản ánh sự trưởng thành của nhiều tầng lớp nhân dân cách mạng trong suốt cả chặng đường lịch sử dân tộc. Ông đã hoàn thành ba tập, dài ngót cả nghìn trang in. Cho đến những ngày cuối cùng, ông vẫn da diết: “Nếu còn sức khỏe, tôi sẽ cố gắng viết cho xong tập bốn bộ tiểu thuyết Người cùng quê, còn nếu… thì cái mà tôi tiếc nhất cũng là việc dang dở bộ tiểu thuyết này”. Cuối cùng, ông đã thua thần chết! Thương ông, thời đó cũng có vài ý kiến bàn ra bàn vào, ông vẫn kiên trì thực hiện ý định của mình và luôn tự nhủ: “Tôi nghĩ về cuối đời cầm bút nên có một cái gì để đền ơn trả nghĩa đối với đồng bào, đồng chí, nên cứ lì lợm theo đuổi tác phẩm này. Mười năm sau khi tôi nhắm mắt, khi thị trường chữ nghĩa bớt rối ren, bản thảo đem ra in vẫn được chứ có sao đâu” [Dẫn theo Trần Mạnh Thường, Các tác gia văn chương Việt Nam, Nxb VHTT 2008, tr. 2142]. May mắn thay, hai năm sau khi ông qua đời, gia đình và bạn bè đã cho ấn hành tập ba (1997), còn tập bốn đành chịu số phận dở dang…

Nếu chỉ dựa vào tiêu chí phản ánh hiện thực của tiểu thuyết viết về chiến tranh cách mạng, thì tiểu thuyết của Phan Tứ đã đáp ứng nhu cầu một cách xuất sắc. Từ bố cục, kết cấu đến trần thuật, miêu tả đều theo thi pháp truyền thống, được nhà văn thể hiện một cách nhuần nhuyễn, có nhiều biến hóa, bất ngờ đến độc đáo và thú vị. Đặc biệt là nhà văn đã để cho ngôn ngữ đời sống ùa vào tác phẩm, nhưng luôn có sự chọn lựa hết sức cẩn thận. Ông là người có ý thức rất rõ về sức mạnh và hiệu ứng thẩm mỹ của từng câu, từng chữ – nơi không chỉ xếp hàng lạnh lùng trên trang giấy, mà mang hơi thở, hơi ấm từ tâm hồn ông được sưởi ấm truyền sang. Ngay trong đời sống, ông nổi tiếng là người cần mẫn, cẩn thận, chịu khó, chu đáo và mực thước. Nhiều người nói về tính cẩn trọng của Phan Tứ như viết thư cho ai đánh máy thành hai bản, để lưu lại một bản, nhà gài lon sữa bò thay chuông… Nhưng thành công lớn nhất của tiểu thuyết Phan Tứ là khắc họa được chân dung những con người sống thực trong chiến tranh, những con người mà ta thường nói là nhân vật điển hình, cả người tốt lẫn người xấu, thậm chí có cả người trung gian – không tốt mà cũng không xấu. Lý thuyết về điển hình của chủ nghĩa hiện thực một thời toàn trị đã che phủ bầu trời sáng tạo và ít nhiều hạn chế phát huy tài năng, nhưng nó là khuôn vàng thước ngọc đã tạo nên những điển hình trong mối quan hệ gắn bó giữa nhân vật và hoàn cảnh. Chính trong môi trường / hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc kháng chiến không cân sức ấy đã đúc kết thành lý thuyết chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trên cơ sở thực tiễn bình thường lại làm nên phẩm chất phi thường của những người anh hùng, những nhân vật điển hình trở thành nhân vật trung tâm, bước ra từ trang sách: Tiến (Bên kia biên giới), má Bảy, Út Sâm (Gia đình má Bảy), Hai Mẫn, Tư Thiêm (Mẫn và tôi), Út Hường (Trại ST.18)…Ông giỏi miêu tả chuyển biến của những nhân vật xuất thân từ tầng lớp trung gian đi về phía nhân dân, phía cách mạng với những khó khăn phức tạp mang tính tất yếu, từ trong tư tưởng đến hành vi biểu hiện với những tình huống bình thường và bất thường.

Nhà tiểu thuyết đã miêu tả nhân vật đậm nét dưới cả ba góc độ, có mối quan hệ logic có tính biện chứng với nhau: ngoại hình, nội tâm và hành động. Ông đặc biệt quan tâm đến số phận người phụ nữ trong chiến tranh. Ngay cả nhan đề các tiểu thuyết đã thấy xuất hiện hình tượng nhân vật trung tâm là phụ nữ: Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, nằm trong đội ngũ của những Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Hòn đất (Anh Đức) hoặc Đất Quảng (Nguyễn Trung Thành), nhưng được khắc họa với dáng vóc riêng. Má Bảy là hình mẫu tiêu biểu cho người phụ nữ miền Trung nghèo khó, người vợ, người mẹ suốt đời lam lũ, chịu thương chịu khó lo cho chồng, cho con, tuy có lúc dao động hoang mang nhưng vẫn thủy chung với kháng chiến và niềm tin lớn lao với cách mạng, khi nhận công việc gì của cách mạng giao phó, đều quyết tâm thực hiện đến cùng. Út Sâm trẻ tuổi năng nổ, hăng hái, từng bước trưởng thành và kiên trinh với cách mạng. Hai Mẫn cũng là một cán bộ trẻ, năng nổ, nhưng có phần đằm thắm hơn Út Sâm. Mẫn dường như là sự đi tiếp của Sâm. Tính cách của Mẫn là sự bắt đầu phát triển từ thời điểm mà tính cách của Sâm dừng lại. Hai nhân vật này phản ánh hai giai đoạn khác nhau trong quá trình thế hệ trẻ giác ngộ và đến với cách mạng. Ở Mẫn, đã qua rồi cái phơi phới hồn nhiên của tuổi trẻ, bắt đầu có những băn khoăn về sống/ chết, sướng/ khổ, đúng/ sai, tự soi tìm, tự thể hiện mình, chứ không làm theo người khác: “Trong cái chân lý lớn của cách mạng, Mẫn phải tự tìm những chân lý nhỏ của từng việc, từng ngày, phải dám quyết định và gánh hết trách nhiệm đôi khi quá nặng” [tr. 207]. Chính sự trùng nhau và bước tiếp của tính cách hai nhân vật này, vừa thể hiện ưu điểm lại vừa bộc lộ nhược điểm của nhà tiểu thuyết. Ưu điểm là “Mẫn và tôi sẽ tiếp tục giải quyết một số vấn đề mà trong Gia dình má Bảy, Phan Tứ chưa có điều kiện đề cập tới” [Phan Cự Đệ, Phan Tứ – tiểu thuyết Mẫn và tôi, Nxb Hội Nhà văn 2009, tr.346] và nhất là nhận diện được sự phát triển có tính liên tục của các giai đoạn cách mạng, có tính chất biên niên sử của thời đại. Nhưng nhược điểm rất rõ là tính cách họ giống nhau, cũng yêu nước, sớm giác ngộ, năng nổ, hăng hái, dũng cảm vượt qua mọi thử thách gian lao, tuy cảm quan hiện thực Mẫn có vẻ đẹp đằm thắm hơn Sâm, nhưng họ giống nhau lắm, thực chất chỉ là một người sống trong hai giai đoạn cách mạng mà thôi! Thiêm là người có tâm hồn rộng mở, đón nhận tất cả những ấn tượng, những cảm xúc, những kinh nghiệm của cả thế giới bên ngoài và những trăn trở vận động trong nội tâm. Anh từng trải và lịch lãm, có học vấn, kinh qua nhiều nghề kiếm sống trước khi trở thành một chiến sĩ gan dạ, một chỉ huy tài năng, nhưng lại quá tỉnh táo, làm cho đời sống nội tâm có chút nghèo nàn so với cuộc sống của một con người có trình độ như anh. Có lẽ vì thế mà có người có lý khi gọi tên phong cách tiểu thuyết của Phan Tứ là “chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo” [Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học và THCN 1978, tr.320]. Khác với truyện ngắn, trong tiểu thuyết của Phan Tứ những nhân vật phản diện và những nhân vật trung gian ít được ông đầu tư năng lực nghệ thuật để miêu tả một cách sắc nét, kiểu như “cắt tiết người để uống” của cha con Hứa Xâng, Hứa Min (Đất Quảng) của Nguyễn Trung Thành, hoặc chém đầu người bằng dao chặt dừa của bọn Xăm, Sằng (Hòn đất) của Anh Đức. Ở Phan Tứ, nhân vật trung gian như Duy Hảo, hoặc phản diện như cha con xã Chinh (Mẫn và tôi) chỉ được nhắc lướt qua, hoặc ác như thằng Phổ (Gia đình má Bảy) cũng chỉ hiện lên trong ý nghĩ của má Bảy câu hăm dọa đầy sắc máu của hắn: “Một chén gạo cho cộng sản là một chén máu” [tr. 176].

Không tính bộ tiểu thuyết chưa hoàn thành Người cùng quê, trong số những tiểu thuyết của Phan Tứ đã được công bố trọn vẹn, mỗi tác phẩm đều có giá trị đáp ứng trong một giai đoạn lịch sử khác nhau, nhưng có lẽ thành công nhất, tồn tại lâu bền trong tâm tưởng nhiều hệ người đọc là thế giới nghệ thuật Mẫn và tôi, “cuốn tiểu thuyết mà nhà thơ Tố Hữu đã gọi là sách gối đầu giường của thanh niên miền Bắc. Tôi nghĩ rằng, Mẫn và tôi Trước giờ nổ súng là đỉnh cao trong sự nghiệp của nhà tiểu thuyết Lê Khâm – Phan Tứ. Cuốn Mẫn và tôi đáp ứng câu hỏi của hàng triệu người lúc đó: Có đánh Mỹ được không? Làm thế nào để thắng Mỹ? Cuốn sách đã bước qua được thử thách của thời gian. Vào sáng ngày 19.4.1995, tại Nhà văn hóa trung tâm tỉnh (Quảng Nam Đà Nẵng – người viết), trong buổi lễ truy điệu nhà văn Phan Tứ, giữa hàng trăm vòng hoa tôi chú ý đến một vòng hoa mộc mạc của một nhóm bạn đọc với dòng chữ Mẫn và tôi sống mãi. Còn gì tốt đẹp hơn lời đánh giá ấy của công chúng. Bởi vì, đâu phải bất cứ nhà văn nào cũng được lời khen tặng như vậy trong lúc ra đi…” [Thanh Quế, sđd, tr.204). Là nhà văn trưởng thành trong bão lửa của chiến tranh và cách mạng, Phan Tứ là chân dung tiêu biểu cho một thế hệ nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ. Cho đến cuối đời, ngồi tổng kết lại những năm tháng đã đi qua, ông từng cho rằng: “Cuộc đời tôi từ 14 tuổi, cho đến nay 65 tuổi toàn là sống trong chiến tranh. Viết ra, hay dở còn tùy thuộc bạn đọc. Tôi chỉ muốn nói một điều thôi: không ai ép mình đi theo kháng chiến chống Pháp, không ai ép mình đi theo kháng chiến chống Mỹ, thì bây giờ cũng không ai ép mình viết cả… Chỉ còn hận là đã không kịp làm trọn công việc…” [Phan Tứ, Mẫn và tôi sống mãi, Nxb Thanh niên 2001, tr.494-395]. Chưa phải bàn đến tư tưởng, đến ý thức hệ về chính trị, chỉ nhận diện ông với tư cách một con người, một nhân cách: đáng ngưỡng vọng ông là người yêu nước, khi đất nước ngoại xâm, ông trở thành người chiến sĩ tham gia đánh giặc; với tư cách là nhà văn, ông lao động sáng tạo đến hơi thở cuối cùng.

                                                                                                               P.P.P