Thời hoa lửa – Những ký ức rời…

Tính ra thì đã hơn ba mươi ba năm chúng tôi mới có dịp hội ngộ, những người lính cùng đại đội từng sống chết một thời. Ngày ấy, sau những năm tháng chiến đấu ở mặt trận Đông Bắc Campuchia, chúng tôi trong đội hình Binh đoàn 52 rút quân về nước. Tôi ra quân về quê thì một năm sau những đồng đội tôi mới lần lượt xuất ngũ. Ba mươi ba năm, so với chiều thời gian của lịch sử thì ngắn ngủi nhưng so với quỹ thời gian của một đời người thì quả là dài. Thời ấy, chúng tôi những người lính trẻ chỉ mới tuổi đôi mươi, hát khúc quân hành trận mạc, chừ anh nào cũng ngoài năm mươi tóc đã hoa râm, có kẻ đầu đã bạc. Vậy mà gặp nhau, nhắc lại những kỷ niệm, vẫn cứ tươi rói như mới hôm qua…

Tác giả và người đồng đội cũ ngày gặp mặt Trung đoàn

Họp mặt cựu chiến binh nhân ngày truyền thống Trung đoàn, hắn dắt vợ từ Nha Trang theo tàu ra Đà Nẵng. Kỷ niệm ngày truyền thống là cái cớ, chủ yếu là gặp nhau cho thỏa thời gian xa cách nhớ mong. Để được ôn lại kỷ niệm những tháng ngày không thể nào quên; để nhắc đến những trận đánh, những ngày sương khói mù khơi; để nhắc đến những đứa đã vĩnh viễn nằm lại ở cái tuổi hai mươi, và họ không được trở về. Hà – tên của hắn, đồng đội của tôi vẫn không thay đổi về vóc dáng, có già đi nhưng giọng nói vẫn oang oang sức sống. Gặp nhau vỡ òa những ký ức, vui buồn, rưng rưng.

Những ký ức rời…

Trong Đại đội tôi ngày ấy, Hà là anh lính trẻ – khỏe, cao to sức vóc, luôn luôn chia sẻ những cực nhọc, gian khó với đồng đội. Một mình hắn, hai tay kẹp hai bao gạo năm mươi ký đi cả trăm thước vẫn bình thường. Đi chiến dịch, trên đường hành quân trèo đèo lội suối, bạn bè sốt rét, ốm yếu, Hà mang vác súng đạn, lương khô, quân tư trang cho anh em mà vẫn cứ tươi cười, luôn động viên đồng đội. Với tôi, hắn còn có nhiều kỷ niệm khó quên.

Tôi nhớ. Chiến dịch Ngã Ba Biên, sau nhiều ngày hành quân bằng xe, Trung đoàn chúng tôi qua Lào rồi đi vào vùng địch. Mường Muông là nơi chúng tôi tạm dừng quân để củng cố đội hình, lấy thêm lương thực trước khi vào trận. Hà cùng tiểu đội của hắn được phân công theo xe lên Pắc- xế, khi về hắn dúi vào tay tôi hai gói thuốc lá Lào: “Phần anh. Em biết, thiếu ăn anh chịu được chứ thiếu thứ này anh chết! Thuốc lá Lào đó ông anh!”. Rồi hắn cười, nụ cười của người lính trẻ sắp vào trận mạc cận kề với cái chết mà vẫn cứ vô tư đến lạ? Rồi suốt hàng tuần lễ, ngày ém quân trong rừng rậm, đêm đi, chúng tôi cũng đến nơi cần đến. Thiếu nước uống, nhường nhau từng nắp bi đông cho qua cơn khát cháy cổ họng. Tôi lên cơn sốt rét, chỉ mang nổi khẩu súng AK choàng qua người, còn lại quân tư trang, đạn, lương thực… bạn bè tôi mang giúp vì giữa đường hành quân không thể quay về được. Bàn chân mỗi chúng tôi phồng rộp lên, bọng nước phải lấy kim xuyên qua vết bỏng bằng một sợi chỉ dẫn lưu để đi. Chúng tôi đi xuyên đêm, xuyên rừng, băng qua những ngọn đồi, những vách đá cao vút tưởng như tận mây xanh, phải đi bằng thang dây. Đêm rừng biên cương mờ ảo và huyền bí, phản phất sự chết chóc của con đường những chiến binh vào trận. Tôi chợt nhớ lời của một bài hát nào đó: “Đoàn quân bước trên đường rừng/ bình minh lấp lánh chân trời xa/ miền biên giới xanh thẳm/ hạt sương long lanh cành lá/. Từ nơi biên cương núi cao/ người lính qua trăm suối nghìn đồi/ lắng nghe tiếng của mẹ hiền ngày đêm giục bước con hành quân…” sao mà hợp với hoàn cảnh chúng tôi đến thế. Suốt mùa chiến dịch, Hà luôn bên cạnh tôi, hắn mang tất tầng tật mọi thứ tôi có cho đến khi vào vị trí tác chiến, chiếm lĩnh trận địa. Rồi súng nổ, rồi tấn công cứ điểm Khơ-me đỏ làm cho kẻ thù tan tác, chúng tôi rút về Bản Khẻm ăn Tết trước khi hành quân vào một chiến dịch mới.

Lần này chúng tôi vào sâu đất địch mấy chục cây số đường rừng. Rừng đại ngàn hoang vu không dấu chân người. Chúng tôi hành quân trong mênh mang cây lá và cỏ dại. Người phía sau gắn vào lưng người phía trước một nắm lá mục “lân tinh” (loại lá phát sáng) để nhìn thấy và bước theo. “…Mờ trong bóng chiều/ Một đoàn quân thấp thoáng/ Núi cây rừng/ Lắng tiếng nghe hình dáng/ Của người anh hùng…” (Chiến sĩ vô danh – Phạm Duy). Trong đêm tối chập chờn, đoàn quân im lặng vượt qua những dốc cao đồi sâu, và cũng biết rằng, thời khắc ấy nơi quê nhà mọi người chắc còn đang say sưa vui xuân, đón Tết. Chúng tôi vừa đi vừa ngủ và đi cho đến khi được lệnh dừng lại triển khai đội hình chiến đấu. Giữa trận đánh ấy, tôi được lệnh chỉ huy cùng tiểu đội đưa mười một thương binh nhẹ (những người còn đi được) xuống dãy núi Đăng-rêt về trạm phẩu Sư đoàn. Tiểu đội tôi chỉ còn ba người trong đó có Hà. Đi được nửa đường thì cả đội hình lạc vào giữa bãi mìn của tàn quân Pôn-pôt cài lại trước khi rút chạy. Linh tính sẽ có chuyện chẳng lành, tôi cho anh em dừng lại. May lúc đó, một đơn vị công binh của Trung đoàn bạn vừa tới. Họ bảo anh em tôi không được bước tiếp nữa và họ tiến hành gỡ những quả mìn trước mặt chúng tôi để anh em được an toàn. Lần ấy, trời tháng giêng còn se lạnh mà anh em tôi đứa nào cũng toát mồ hôi ướt đầm cả áo khi quả mìn KP2 cuối cùng (loại mìn nhảy có bán kính sát thương 12 mét) chỉ cách bước chân tôi chừng nửa mét. Hà đi sau lưng tôi, hắn nói: “Anh à! Nếu còn sống trở về, em nói ông bà già cúng mừng con heo!”, và nghe đâu khi ra quân về quê,  gia đình hắn đã thực hiện điều ấy.

Tôi đang lan man những ký ức rời về thời chiến chinh ấy, thì Hà cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi: “Anh còn nhớ lần rút quân về “Xa Em” anh bị lạc không?”. “Nhớ chứ! Không có bọn bay thì tau cũng dễ đi đứt!”. Lần ấy, khi chiến dịch kết thúc, chúng tôi được lệnh rút về Xa Em để củng cố đội hình. Trên đường đi, một phần ba Trung đoàn bị lạc vào một ngách rừng khác. Đội hình chính đã đến nơi tập kết nhưng bộ phận bị lạc cứ lấn quấn giữa đại ngàn mà không tìm được lối ra. Trời tối, chúng tôi đành dừng quân nghỉ lại trong rừng chờ sáng. Tối hôm đó, bên con suối sắp khô, bạn bè tôi phát hiện có rất nhiều cá. Cá ơi là cá; cá bơi dưới suối mà mặt nước cứ sục lên như cơm sôi. Lũ chúng tôi mừng quýnh quên cả chuyện đang bị lạc đội hình. Đứa cầm dao găm, đứa đốt đèn rọi xuống nước. Cứ một nhát chém ngang là được năm bảy con cá trằn, cá xanh, cá niêng…Chúng tôi được dịp no nê cá một bữa để… thức chờ sáng! Hôm sau, tìm được đường ra, chúng tôi tiếp tục hành quân về đơn vị. Chân tôi phồng rộp lên không bước đi được, Tôi bắt đầu đếm…mồi lần đi đến bước thứ năm mươi, chống súng dừng lại nghỉ lấy sức. Rồi bốn mươi, ba mươi, hai mươi, mười…đến khi tôi kiệt sức hoàn toàn thì anh em trong đại đội cũng vừa từ nơi tập kết đến đón chúng tôi. Hà cõng tôi trên vai, quân tư trang những người khác mang lấy. Lần ấy hắn cõng tôi đi suốt năm cây số đường rừng mà chẳng thấy mệt mỏi chút nào, đúng là thằng sức vóc!

Rưng rưng thời hoa lửa…

Về lại đời thường, chúng tôi mỗi người một hoàn cảnh. Tôi về lại cơ quan cũ làm anh công chức. Bạn bè tôi, có người cuộc sống suông sẻ làm đến giám đốc công ty này nọ; có kẻ lang bạt kỳ hồ; thằng về quê làm ruộng vất vả, lam lũ…có đứa tuổi đời ngắn ngủi cũng đã ra đi vì bệnh tật, tai nạn thành hoa cỏ sương mai…nhưng mỗi chúng tôi, những người còn sống trở về luôn thường nghĩ về nhau và cái thời hoa lửa không thể nào quên ấy, xem thời tuổi trẻ đi qua luôn đẹp nhất của mỗi cuộc đời mình. Với Hà, hắn là dân nghèo thành thị. Nợ áo cơm không đùa cợt với bất cứ ai. Hắn chạy xe thồ, xích lô, khuân vác kiếm sống chật vật suốt mấy chục năm nay trong thành phố Nha Trang. Dành dụm được chút tiền, hắn nghĩ ngay đến việc đi Đà Nẵng thăm những người đồng đội cũ đã nhiều năm không gặp. Dù ai cũng đã già đi trong tuổi đời nhưng ký ức vẫn còn tươi rói với thời gian.

Giữa miền quê. Mênh mang ngọn gió nồm chiều, rưng rưng hoài niệm quá vãng của những người lính trận năm nào, bất chợt trong tôi hiển hiện mấy câu thơ:

Về họp mặt Trung đoàn

Bạn tôi.

Rót chén rượu và hoa và hương trầm vào đất

Cho thằng không ngồi đây

Từng một thời chung lưng đấu cật

Đặc quánh nỗi nhớ không lời

Một nỗi nhớ xa xăm…

N.H.T