Tản mạn Nông Sơn

Nông Sơn, cái tên mà lần đầu tôi được biết đến không phải là vùng đất nên thơ ven sông Thu Bồn mà lại gắn với than đá – mỏ than Nông Sơn: Nông Sơn than đá thiếu chi/ Bảo An đường tốt Trà My quế nhiều…

Vẻ đẹp hoang sơ của Hòn Kẽm

Người Việt Nam biết sử dụng than đá khá muộn. Từ thế kỷ XIX trở về trước ông bà ta chỉ biết dùng than gỗ để đun nấu và nung quặng, luyện kim. Khoảng giữa thế kỷ XIX, biết được giá trị của loại nhiên liệu này, triều đình nhà Nguyễn bắt đầu cho khai thác than đá ở mỏ than Nông Sơn. Theo Đại Nam Thực lục (Quốc sử quán Triều Nguyễn) thì một người Hoa đã xin lĩnh canh khai thác, tuy nhiên lúc bấy giờ làm bằng phương pháp thủ công nên chỉ khai thác ở lớp mặt của mỏ, năng suất thấp. Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Công ty Sociéte des Docks et Houilleries de Tourane của người Pháp đã tổ chức khai thác với quy mô lớn. Than đá khai thác từ mỏ Nông Sơn được chuyển lên ghe thuyền, vận tải theo đường sông Thu Bồn ra đến Kỳ Lam, từ đó đưa lên tàu hỏa để chuyển đến nhiều nơi trong nước. Thời bấy giờ, ở nước ta than đá bắt đầu được dùng để đun nồi súp-de (chaudière vapeur: nồi hơi – một bộ phận của máy hơi nước) vận hành động cơ tàu hỏa, tàu thủy và máy nhiệt điện; than đá còn được dùng trong các lò luyện kim, các lò rèn… Sau năm 1945, mỏ than Nông Sơn ngưng hoạt động, đến năm 1954, chính quyền Sài Gòn tiếp tục khai thác mỏ than nhưng kỹ thuật không thay đổi nên năng suất vẫn thấp.

Ngày nay, từ khu mỏ than muốn sang chợ Trung Phước không phải chờ đò ngang như ngày trước, đi trên cây cầu bê tông vững chãi chợt ngậm ngùi nhớ lại cái ngày định mệnh, một chiều mưa giông tháng 5 năm 2003 đã cướp đi sinh mạng của 18 em học sinh, trước đó, cũng dòng sông này, thảm họa đã từng xảy ra, trận lụt kinh hoàng năm Bính Thìn – 1964 đã nhấn chìm hơn 300 người dân Trung Phước dưới dòng nước lũ hung hãn. Tang thương nối tang thương nhưng vùng đất Nông Sơn – Trung Phước vẫn bừng lên sức sống mãnh liệt, ruộng đồng cây trái vẫn xanh tươi, người dân vẫn miệt mài lao động sáng tạo nên những giá trị văn hóa, kinh tế, xây dựng vùng quê yên bình thân thương.

Từ bến đò Trung Phước, nhìn qua bên kia sông ta sẽ thấy làng Đại Bình (nhân dân địa phương quen gọi là Đại Bường) thơ mộng ẩn hiện sau lũy tre xanh. Nhiều người ví Đại Bình như một Nam Bộ thu nhỏ bởi cây trái trong vườn là đặc sản miệt vườn Nam Bộ. Theo các cao niên trong làng, cách nay khoảng 50 năm, cụ Huỳnh Châu nhân một chuyến đi miền Nam, đã mang một số hạt giống cây từ Nam Bộ về trồng thử ở đây. Nhờ thổ nhưỡng ở Đại Bình phù hợp nên các loại măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ phát triển rất tốt, nhân dân trong làng lấy hạt giống từ vườn nhà cụ Huỳnh Châu đem về trồng, lâu ngày trở thành làng cây ăn quả độc đáo ở miền thượng nguồn sông Thu Bồn. Ngoài cây trái Nam Bộ, làng Đại Bình có một loại cây bản địa đặc sắc, đó là cây trụ lông, quả gần giống quả bưởi, khi còn non quả được bao phủ một lớp lông tơ mịn màu trắng. Múi trụ lông dày, tép lớn và không nhiều nước như bưởi nhưng có vị ngọt thanh. Đáng tiếc là ngày nay nhiều loại cây ăn quả ở Đại Bình đã bị suy thoái, năng suất và chất lượng không còn được như xưa. Nhớ lần đầu được thưởng thức hương vị trái trụ lông Đại Bình, năm 2011, sau chuyến khai quật di tích khảo cổ học Gò Chùa thuộc thôn Phước Hội, xã Quế Lâm, tôi ghé thăm T.M, một nhân viên cũ của Sở đang ở tại Trung Phước. Cô nhân viên hồn nhiên ngày nào nay đã có một chú nhóc dễ thương, nhìn TM vừa ru con vừa gọt vỏ trái trụ mời khách, bỗng dưng tôi chợt nhớ đến một bài hát của nhạc sĩ Đinh Trầm Ca… Hương vị trụ lông ngọt ngào dường như pha trong đó chút ngậm ngùi bởi có người đã xa rồi một thời hồn nhiên.

Trụ lông ở làng Đại Bình

Từ Trung Phước vượt đèo Le qua Quế Sơn, đường đèo không dài lắm nên nhiều cán bộ công nhân viên, giáo viên nhà ở Quế Sơn nhưng làm việc tại Nông Sơn, ngày ngày vẫn cứ xe máy đi về. Vì sao có tên là đèo Le? Một số người cho rằng do ngày xưa đi bộ vượt đèo cực khổ nên mệt le lưỡi vì thế gọi là đèo Le. Có người cho rằng xưa kia khu vực này có nhiều cây le (thuộc họ tre nứa) mọc nên thành tên gọi đèo Le. Địa danh đèo Le có từ bao giờ cũng không ai biết rõ, tuy nhiên theo nội dung một trong ba tấm bia chữ Hán được tìm thấy tại đèo Le do Ấn Nam Nguyễn Đình Hiến biên soạn vào năm Canh Thìn (1940) thì sự hiểm trở của đèo Le lúc bấy giờ được miêu tả như sau: “Con đường đèo Le Quế Sơn thật là hiểm trở, về phía Đông có hai tổng Trung Châu là: Thuận Mỹ, An Phú, tiếp về phía Tây là Tổng Trung Lộc miền cao, thông với đường sông Thu Bồn và giáp miền thượng man, chung quanh đều là núi cao tạo thành một bức tường thành trời định, trước đây người qua lại tổng Trung Lộc đều than thở đường hiểm núi cao, đá chởm, đất bùn…”(1). Kỳ lạ thay, vùng đất bị cách trở với đồng bằng bởi núi non, đường sá hiểm trở lại sinh ra những danh sĩ, thi sĩ nổi tiếng, trong đó không thể không nhắc đến tên tuổi của Tường Linh và Tạ Ký, hai nhà thơ tài hoa của đất Trung Phước. Tường Linh đã có những tác phẩm được xuất bản từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX, và sau này có nhiều bài thơ in trên nhiều báo, tạp chí, ông quá quen thuộc với giới văn chương Quảng Nam. Còn Tạ Ký thì có lẽ chỉ những người thuộc thế hệ của ông mới nghe tiếng. Tôi biết được nhà thơ Tạ Ký cũng bởi cơ duyên, ông là anh ruột của dượng tôi. Năm 1971, tôi được đọc tập thơ “Sầu ở lại” do nhà thơ Tạ Ký tặng dượng, vốn mê thơ văn, tôi đọc một mạch, đến nay còn nhớ mấy câu não long trong bài “Đoạn trường gợi lại”: Bước chân nào nặng phù du/ Ngón tay nào thắt sầu tư trói hồn/ Cô đơn rồi vẫn cô đơn/ Bốn mươi thu đó đòi cơn đoạn trườngMà thôi, đàn kiếm giang hồ/ Trở về cát bụi, cơ đồ ngả nghiêng/ Say đến khóc, cười như điên/ Ngàn xưa đọng lại, một thiên não người! Tôi ấn tượng với chân dung tác giả, rất phong lưu lãng tử với ống pipe (tẩu thuốc) ngậm trên môi. Dượng tôi cho biết, Tạ Ký làm thơ từ thời còn học tiểu học, năm 1956 ông vào Sài Gòn theo học Văn Khoa rồi trở thành giáo sư dạy văn chương tại trường trung học Petrus Ký (Thời trước năm 1975, thầy/ cô giáo dạy từ lớp 6 trở lên được gọi là giáo sư). Tập thơ “Sầu ở lại” đã được tặng giải thưởng thơ của VNCH. Năm 1973, ông xuất bản tập thơ “Cô đơn còn mãi”. Tựa đề hai tập thơ của ông dường như là dự báo trước tương lai ảm đạm của nhà thơ tài hoa bạc mệnh này. Sau tháng 4.1975, ông phải đi học tập cải tạo vì là quân nhân biệt phái. Thời trước 1975, cũng như Tạ Ký, nhiều thầy giáo bị bắt vào huấn luyện ở trường sĩ quan, mặc dù chưa một lần cầm súng ra trận nhưng phải chịu tiếng là sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Cuối năm 1978, khi Tạ Ký ra trại cải tạo thì vợ con ông đã vượt biên sang Mỹ, còn lại một mình, Tạ Ký rời Sài Gòn đi An Giang tá túc ở nhà người quen rồi qua đời tại đây vào tháng 3.1979.

Từ đèo Le nhìn về Trung Lộc, căn cứ Tân tỉnh một thời oanh liệt dưới sự lãnh đạo của Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, giờ đây cỏ lau ngút ngàn, trong tiếng gió nghe như vang vọng đâu đó thanh âm hùng tráng của đoàn quân Nghĩa hội. Thời gian tồn tại của Nghĩa hội Quảng Nam và Tân tỉnh Trung Lộc tuy không dài nhưng cũng đã khiến cho thực dân Pháp và triều đình tay sai phải khiếp sợ.

Đi dọc tuyến đường từ Nông Sơn về Quế Sơn, dọc đường có nhiều quán ăn ghi “Gà Đèo Le”. Gà đèo Le đã trở thành đặc sản trong các quán nhậu, không chỉ Nông Sơn, Quế Sơn, từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng đâu đâu cũng thấy quảng cáo “Gà đèo Le”. Giống gà Đèo Le nguyên là loại gà tre hoang dã được thuần dưỡng, thịt gà nổi tiếng thơm ngon nhưng nhỏ con, gà trưởng thành chỉ nặng khoảng 500- 600g. Do tập quán nuôi thả, ngoài lúa, bắp, gà còn tìm nguồn thức ăn côn trùng rất phong phú trong tự nhiên, lại di chuyển suốt ngày nên thịt gà săn chắc. Mặc dù sức đề kháng của gà rất mạnh, ít bị dịch bệnh nhưng chăn nuôi nhỏ lẻ, gà sinh sản ít nên sản lượng gà tre đèo Le không nhiều, vậy lấy đâu ra để đủ cung ứng cho thị trường rộng như thế? Một anh bạn ở Quế Sơn nói vui: “Chỉ có người bán mới biết có phải gà đèo Le hay không”. Thiết nghĩ với thương hiệu đã có, ngành Nông nghiệp Nông Sơn và Quế Sơn nên có kế hoạch giúp nhân dân địa phương bảo tồn nguồn gen và nhân giống gà tre để nuôi quy mô lớn, vừa tăng thu nhập cho nhân dân, vừa giữ được danh tiếng gà tre đèo Le…

Nông sơn còn có những giá trị văn hóa du lịch như sông Thu Bồn, thắng cảnh Hòn Kẽm – Đá Dừng, suối nước nóng Tây Viên, những địa danh gợi sự tò mò như Tý, Sé, Dùi Chiêng… tuy nhiên đáng tiếc tất cả vẫn còn ở dạng tiềm năng. Ngày nay, con đường từ Đà Nẵng đi Ái Nghĩa sang Duy Xuyên lên đến Nông Sơn đã được nâng cấp, đi lại thuận lợi, không còn cách trở như xưa. Hy vọng trong tương lai không xa, những tiềm năng văn hóa du lịch của Nông Sơn sẽ được khai thác xứng đáng với giá trị vốn có.

H.X.T

[1]An Trường. Người mở đèo Le. Báo Đà Nẵng cuối tuần 31.7.2010.