Sự kiện chống sưu thuế năm 1908 qua một bài vè dân gian

VÈ XIN THUẾ

Lẳng lặng mà nghe

Cái vè xin thuế

Mùa màng mất tệ

Buôn bán không ra

Kẻ gần người xa

Cũng nghèo cũng khổ

Hai đồng sáu nọ

Bảy ngày công sưu

Cao đà quá đầu

Kêu gào ngắn cổ

Ở đâu ở đó

Cũng rúc mà ra

Kẻ kéo xuống tòa

Người nằm trên tỉnh

Đông đà quá đông

Tự trong Hà Đông

Ngoài từ Diên Phước

Đại Lộc xin trước

Duy Xuyên Quế Sơn

Thăng Bình Hòa Vang

Huyện mô cũng có

Lạy quan bảo hộ

Dân thiệt cơ hàn

Phải tới kêu oan

Nhờ ơn chuẩn giảm

Người thôi lổm chổm

Đùm muối đùm cơm

Kẻ chạy lơm xơm

Bọc khoai bọc đỗ

Quần thì đóng khố

Áo chỉ mông trôn

Hình tợ Châu Ôn

Dạng như phật đất

Trong toàn đã chật

Nằm tới ngoài đàng

Từ phố Hội An

Đến sông Chợ Củi

Kêu nghèo kêu đói

Xin thuế xin xâu

Có kẻ trọc đầu

Có người dài tóc

Đi ngang đi dọc

Kéo vô kéo ra

Miệng nói chu choa

Đồng thời tớ mớ

Thằng thâu thuế chợ

Cũng đánh chạy tan

Ông cai đắp đàng

Sợ đều trốn phức

Ban đầu la cực

Sau lại làm hung

Vì kẻ lung tung

Bắt người sàm sục

Nhộn nhộn nhựt nhựt

Túi bụi tăng băng

Kẻ tống thiếp đen

Người trao thiếp đỏ

Trác quan sức tỏ

Tất cả vọng vô

Từ dân trấn vô

Bất tuân trong đã

Lạ đà quá lạ

Kinh cũng quá kinh

Trong réo Lãnh binh

Ngoài khiêng Tri phủ

Có quan Tổng cũ

Cũng thích nước thầu

Xin thuế xin xâu

Sao hung chi dữ

Từ tỉnh từ sứ

Chí huyện chí nha

Thấy toàn người ta

Nằm thôi chật ních.

Sứ đà hiểu sức

Biểu kéo nhau về

Dân chẳng chịu nghe

Cứ việc nằm đó

Quan kêu khố đỏ

Đánh bể mật xanh

Kẻ thì giập mình

Người thì bể trốc

Mấy người không tóc

Xiểng liểng mang tai

Mấy ông tóc dài

Cũng giơ kiếng guốc

Súng đạn rật rật

Roi quất vo vo

Ai nấy tự lo

Không còn tập hợp

Tra Tri ra gấp

Bộ kéo về liền

Hai trăm lính tập

Quan một quan hai

Súng đạn hẳn hoi

Đàn áp thẳng tay

Kẻ chạy xuống sông

Người bay lên núi

Kẻ rúc vô bụi

Người bay vô rừng

Bắt đi lịu địu

Vợ chồng bận bịu

Cha mẹ thiết tha

Kẻ giải xuống tòa

Người giam tại phủ

Thuế đà đến vụ

Xâu đã hết kỳ

Chẳng miễn giảm chi

Đã đánh lại tù

Chẳng biết làm sao

Thôi đành thúc thủ!

Năm 2018, tròn 110 năm, ngày “Cuộc dân biến Trung kỳ” (tên gọi do chính quyền thực dân và phong kiến đặt cho thời ấy) nổ ra mà đầu tiên bắt nguồn từ làng Phiếm Ái, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Các nguồn sử liệu gọi là phong trào vì ngọn lửa đấu tranh của nhân dân thời ấy với khí thế bừng bừng khắp cả huyện, cả tỉnh rồi khắp các tỉnh miền Trung. Cuộc dân biến như một ngọn lửa bùng lên và lan nhanh vào mùa xuân năm 1908, nhưng chỉ là cuộc bạo động có tính tự phát, do bị bóc lột đến cùng cực phải đấu tranh, không được tổ chức quy củ nên bị chính quyền thực dân phong kiến đương thời thẳng tay đàn áp trong biển máu. Hàng trăm người bị bắt xử chém, bị tù đày. Tuy vậy, cuộc đấu tranh cũng đã minh chứng cho tinh thần bất khuất của người dân Quảng Nam trước bạo lực cường quyền.

Đã hơn trăm năm nay, người dân vùng Đại Lộc vẫn còn lưu truyền bài vè “Vè xin thuế” kể lại sự kiện này. Bài vè được nhân dân sáng tác bằng ngôn ngữ bình dị, bộc trực như tính cách của vùng đất con người nơi đây miêu tả sống động nỗi uất ức của người dân, sự bóc lột của bọn thực dân phong kiến, và như giọt nước tràn ly, hệ quả của sự bóc lột đàn áp ấy dẫn đến cuộc đấu tranh của nhân dân đòi công lý: “Lẳng lặng mà nghe/ Cái vè xin thuế/ Mùa màng mất tệ/ Buôn bán không ra/ Kẻ gần người xa/ Cũng nghèo cũng khổ/ Hai đồng sáu nọ/ Bảy ngày công sưu/ Cao đà quá đầuKêu gào ngắn cổ…”.

Theo nhiều nguồn sử liệu, thì sau năm 1897thực dân Pháp bắt đầu công việc khai thác thuộc địa. Dân chúng từ thành thị đến thôn quê thảy đều nai lưng đóng thuế, đi phu vô cùng khốn đốn. Thời ấy, ruộng đất của người nông dân từ nhiều đời đã thuộc sở hữu của bọn địa chủ, hào trưởng phong kiến. Người dân cày sống kiếp đời làm thuê với bao tầng bóc lột đến trắng tay, cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm. Đã vậy, còn phải đi phu làm đường, nộp tiền thuế thân, “sưu cao thuế nặng”. Từ năm 1908, thực dân Pháp lại bắt đầu cho sửa chữa và mở rộng mặt đường từ huyện Đại Lộc đi tỉnh lỵ. Bởi viên tri huyện ăn hối lộ nên phân bổ nhân công không đều làm cho đông đảo dân phu bất mãn. Những yếu tố trên manh nha cho một cuộc đấu tranh đòi công bằng cũng là lẽ đương nhiên.

Vào ngày đầu tháng 2 năm Mậu Thân (1908), tại một bữa giỗ tộc Trương (Phiếm Ái, Đại Lộc), các ông Trương HoànhLương ChâuHứa TạoTrương TổnTrương CônTrương Đính… đã “bàn nhau làm đơn lấy chữ ký các làng xã trong huyện, tới trình viên quan huyện chuyển đạt lên tỉnh cùng Tòa sứ xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế, kẻo nặng quá dân không đóng nổi: “…Ở đâu ở đó/ Cũng rúc mà ra/ Kẻ kéo xuống tòa/ Người nằm trên tỉnh/ Đông đà quá đông/ Tự trong Hà Đông/ Ngoài từ Diên Phước/ Đại Lộc xin trước/ Duy Xuyên Quế Sơn/ Thăng Bình Hòa Vang/ Huyện mô cũng có/ Lạy quan bảo hộ/ Dân thiệt cơ hàn/ Phải tới kêu oan/ Nhờ ơn chuẩn giảm…”.

Đầu tiên, với chủ trương ôn hòa là “xin” chứ không phải đấu tranh bạo động. Cứ nghĩ với tờ đơn giải bày nỗi khổ của dân chúng sẽ làm cho các quan bảo hộ huyện, tỉnh cảm thổng miễn trừ thuế sưu cho dân. Đêm ngày 9.3.1908, tráng dân ở các xã vùng thượng lưu sông Vu Gia thuộc tổng Đức Hòa thượng đã tập trung về đình làng Hoằng Phước sát bến đò Ba Bến, nơi sông Con và sông Cái đổ vào sông Vu Gia. Lý trưởng làng Hà Tân là Lương Cảnh đã ủng hộ 6 ang gạo, đôn đốc dân làng thổi cơm ngay giữa sân đình để đoàn người đi “xin sưu” ăn. Sáng ngày 10.3.1908, đoàn “xin sưu” từ đình làng Hoằng Phước qua đò ngang sông Con. Trưa ngày 10.3.1908, đoàn biểu tình “xin sưu” của tổng Đức Hòa Thượng nhóm họp ngay trong huyện đường.

Ngày 11 tháng 3 năm đó, họ kéo nhau lên tỉnh, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu đấu tranh đòi bỏ lệ đi xâu và đòi giảm thuế. Từ Đại Lộc lên tỉnh lỵ Hội An trên 40 km, dân chúng ở hai bên đường theo mỗi lúc một đông. Khi đến bến đò Vĩnh Điện gần tỉnh, thì số người biểu tình đã lên đến khoảng năm, sáu trăm:  “…Người thôi lổm chổm/ Đùm muối đùm cơm/ Kẻ chạy lơm xơm/ Bọc khoai bọc đỗ/ Quần thì đóng khố/ Áo chỉ mông trôn/ Hình tợ Châu Ôn/ Dạng như phật đất/ Trong toàn đã chật/ Nằm tới ngoài đàng/ Từ phố Hội An/ Đến sông Chợ Củi/ Kêu nghèo kêu đói/ Xin thuế xin xâu/ Có kẻ trọc đầu/ Có người dài tóc/ Đi ngang đi dọc/ Kéo vô kéo ra/ Miệng nói chu choa/ Đồng thời tớ mớ…”.

Không những dân chúng từ Đại Lộc, Điện Bàn kéo xuống, mà cả những người dân vùng Quế Sơn, Thăng Bình nghe tin cũng tập hợp thành đoàn kéo ra nhập vào đoàn biểu tình, khí thế ngút trời. Các quan lại huyện phủ hoảng sợ co rút lại, chạy về Tòa sứ. Những tên tay sai nhốn nháo, sợ dân chúng truy sát trả thù trốn chui trốn nhủi: “…Thằng thâu thuế chợ/ Cũng đánh chạy tan/ Ông cai đắp đàng/ Sợ đều trốn phức/ Ban đầu la cực/ Sau lại làm hung/ Vì kẻ lung tung/ Bắt người sàm sục/ Nhộn nhộn nhựt nhựt/ Túi bụi tăng băng/ Kẻ tống thiếp đen/ Người trao thiếp đỏ/ Trác quan sức tỏ/ Tất cả vọng vô/ Từ dân trấn vô/ Bất tuân trong đã/ Lạ đà quá lạ/ Kinh cũng quá kinh/ Trong réo Lãnh binh/ Ngoài khiêng Tri phủ/ Có quan Tổng cũ/ Cũng thích nước thầu/ Xin thuế xin xâu/ Sao hung chi dữ/ Từ tỉnh từ sứ/ Chí huyện chí nha/ Thấy toàn người ta/ Nằm thôi chật ních…”.

Đầu tiên, với chủ trương ôn hòa, làm đơn xin miễn thuế thôi, nhưng các quan phủ, huyện, Tòa sứ ỷ vào súng đạn, bạo lực, điều động tay sai đàn áp, bắn giết làm cho những người biểu tình phẩn nộ. ngọn lửa căm thù cháy dần lên, và người dân không còn nhân nhượng nữa. Theo nhiều nguồn sử liệu ghi lại, đoàn người kéo đến Tòa sứ, công sứ Charles (phụ tá là Phó công sứ Besancon) chỉ cho ba người đại diện vào. Mặc dù được hứa là sẽ xin ý cấp trên về vấn đề sưu thuế và sẽ cho điều tra việc làm của viên tri huyện, nhưng dân chúng không chịu giải tán, một mực cứ đòi giải quyết ngay. Sau đó, ba người đại diện đều bị bắt giam. Căm phẫn, nhân dân từ các nơi kéo đến đông hàng vạn. Viên công sứ liền ra lệnh cho lính xông vào đánh đập, bắn súng thị uy, nhưng dân chúng chỉ tản ra tạm thời rồi tụ lại… đoàn biểu tình kéo đến bao vây dinh tỉnh, đòi tổng đốc Hồ Đắc Trung phải đi đến Tòa sứ Hội An xin giảm xâu thuế cho dân. Hoảng sợ, vị quan này bỏ trốn…: “…Sứ đà hiểu sức/ Biểu kéo nhau về/ Dân chẳng chịu nghe/ Cứ việc nằm đó/ Quan kêu khố đỏ/ Đánh bể mật xanh/ Kẻ thì giập mình/ Người thì bể trốc/ Mấy người không tóc/ Xiểng liểng mang tai/ Mấy ông tóc dài/ Cũng giơ kiếng guốc/ Súng đạn rật rật/ Roi quất vo vo/ Ai nấy tự lo/ Không còn tập hợp…”

Dân kéo đến dinh phủ Điện Bàn, đòi tri phủ Trần Văn Thống phải cùng đi xin sưu thuế với dân. Viên quan này không chịu, liền bị người dân bắt bỏ lên xe kéo đi…Viên đề lại trốn được liền chạy đi báo. Lập tức, công sứ Charles sai lính khố xanh tới bủa vây đoàn người, rồi dùng roi gậy và báng súng xông vào đánh túi bụi. Vẫn không giải tán được, đội lính chĩa súng bắn vào đoàn biểu tình, làm cho một số bị thương và bị chết đuối vì nhảy xuống sông. Viên tri phủ được giải cứu, nhưng ngay tối hôm đó, người dân tụ tập trở lại. Tại làng Gia Cốc thuộc phủ Duy Xuyên, dân chúng kéo đến bắt viên chánh tổng Trần Quất, đốt râu, buộc đá dìm chết, sau đó mới kéo đến phủ lỵ. Các nơi Tam KỳHòa Vang,…dân chúng thảy đều nổi dậy, làm cho chính quyền thực dân phải ban hành lệnh giới nghiêm, và tăng cường lính cho các phủ huyện. “…Tra Tri ra gấp/Bộ kéo về liền/ Hai trăm lính tập/ Quan một quan hai/ Súng đạn hẳn hoi/ Đàn áp thẳng tay/ Kẻ chạy xuống sông/ Người bay lên núi/ Kẻ rúc vô bụi/ Người bay vô rừng/ Bắt đi lịu địu/ Vợ chồng bận bịu/ Cha mẹ thiết tha/ Kẻ giải xuống tòa/ Người giam tại phủ/ Thuế đà đến vụ/ Xâu đã hết kỳ/ Chẳng miễn giảm chi/ Đã đánh lại tù/ Chẳng biết làm sao/ Thôi đành thúc thủ!”.

Bài vè “Vè xin thuế” đã tồn tại trong kho tàng văn nghệ dân gian Đại Lộc đã hơn một trăm năm. Với ngôn ngữ dân dã, bình dị, bài vè đã miêu tả sống động tinh thần bất khuất của cha ông trước bạo lực cường quyền, quyết đấu tranh đòi lẽ công bằng. Đọc lại, ta càng thấy tự hào với vùng đất, con người Quảng Nam, nơi “chưa mưa đà thấm”.

                                                                           N.H.T