Phút thiêng

Đang ở nội thành thì có tin báo phải về Điện Thọ để gặp cấp trên nhận chỉ thị. Tôi rời nội thành theo hành lang vành đai vùng giải phóng, về đến thôn Trung xã Điện Thọ đã bảy giờ tối. Trong thời gian chờ giao liên đến đưa đi gặp cấp trên, tôi ngồi cùng anh du kích trong túp lều tranh của người dân bám trụ, chợt có một người mặc áo quần bộ đội hơi cũ, trông rất vội vã bước vào và nói rất gọn: Báo cáo các anh cấp trên hủy cuộc gặp mặt, và dặn tự tìm cách rút lui an toàn. Tôi chưa kịp hỏi lại thì anh ta nói tiếp, 6h00 sáng ngày mai địch đỗ quân càn quét Điện Thọ, và bóng anh ta khuất dần vào bóng đêm. Hình như tình báo ta biết trước trận càn này nên các đồng chí lãnh đạo đã rút đi an toàn trong đêm. Tình hình đang phức tạp và nguy hiểm, không thể ra khỏi vùng giải phóng về lại nội thành, tôi định ghé thăm anh ruột là Trần Quy, anh đang phụ trách đội du kích xã, muốn nhập cùng đội du kích của anh Trần Quy để tùy cơ ứng biến.

Ngồi bên miệng hầm chữ z của dân trụ bám, lúc ấy khoảng 6h00, thấy trước mặt và trên bầu trời khói mù mịt, tôi biết do du kích và dân bám trụ, họ đốt nhiều đống rơm rạ ủ sẵn trên cánh đồng và trong làng, mục đích cho khói đen bay lên che kín không gian, khiến máy bay trực thăng vận của đối phương không thấy đường đỗ quân. Bấy giờ đạn pháo đại bác của địch bắt đầu bắn từng loạt, ít nhất mỗi loạt năm bảy chục quả, tiếng nổ inh tai nhức óc, khói đạn pháo cộng với khói rơm rạ tạo thành những mảng xám đen, bay là đà mờ mịt dưới vòm trời xã Điện Thọ, những chiếc trực thăng chiến đấu HU1A và máy bay phản lực F105 quầng trên bầu trời, mặc dù không thấy bóng dáng cán bộ và vũ trang của ta, nhưng chúng vẫn bắn những loạt đạn đại liên kéo dài đến vài ba phút, kèm những chùm bom và rocket nổ xé không gian, xóm thôn chìm trong lửa khói…

Thông thường sau những chiến thuật tác chiến phủ đầu bằng hỏa lực mạnh, tiếp đến là trực thăng vận đỗ địch quân, nhưng lần này không nghe tiếng động cơ của bầy trực thăng vận. Tôi trong hầm nghe không gian bỗng nhiên im lặng đến rợn cả  người, cứ nghĩ là địch sắp đỗ quân. Tôi lắng tai nghe, chỉ có tiếng máy bay trực thăng HU1A đang bay về hướng mình, trong tiếng gầm rú của máy bay, nghe tiếng dậm chân thình thịch trên miệng hầm và tiếng kêu rát giọng của anh Trần Quy: Thứ ơi… bồng em xuống! Tôi vội vã chồm người lên khỏi miệng hầm, thấy anh Trần Quy đang xốc nách cháu Thành, đứa con trai khoảng ba tuổi của anh, và khom người xuống đưa cháu sang tay tôi. Cùng lúc đó, chiếc máy bay trực thăng HU1A dừng ngay trên đầu chúng tôi khoảng hơn 5m, hai người lính Mỹ, một phi công đang nhai kẹo cao su, một lính Mỹ ngồi ôm khẩu súng đại liên hướng về chúng tôi mà không nổ súng. Anh Trần Quy trong tư thế khom người xuống, con anh vẫn lơ lửng trên đôi tay của anh, đầu anh quay ngước nhìn lên máy bay như sợ không còn kịp, cháu Thành đang lơ lửng trên tay cha mình, nghe tiếng máy bay và cơn gió lốc cực mạnh của cánh trực thăng làm cháu khiếp sợ, khóc không thành tiếng. Tôi đưa hai tay về phía anh để đón cháu Thành và mắt thì nhìn thẳng lên chiếc máy bay đang dừng sừng sững trên đầu, thấy rất rõ tên lính Mỹ đang để ngón tay lên cò súng đại liên, nòng súng chỉ thẳng về phía chúng tôi nhưng không bóp cò. Hai lính Mỹ thấy rất rõ anh Trần Quy đang mặc bộ đồ cán bộ màu đất, vai mang túi xách, hông đeo khẩu K54, và tôi, tên Việt cộng đang dưới hầm chồm lên… Cả hai chúng tôi đều nhìn lên máy bay với tâm trạng rất lo lắng. Hai lính Mỹ ngồi nhìn xuống chúng tôi như đang giằng co điều gì… không nổ súng. Trong tích tắc ấy tôi chợt hiểu ra, hai tên lính Mỹ trên trực thăng không bắn anh em tôi vì trên tay chúng tôi có sự hiện diện của cháu Thành, đứa bé chưa đầy ba tuổi. Có thể nói hai anh em chúng tôi và hai người lính Mỹ lúc ấy đang nhìn nhau bằng ánh mắt và tâm trạng khó diễn đạt bằng lời, chỉ có người trong cuộc mới thấu hoàn cảnh này! Nhưng trong giây phút thập tử nhất sinh ấy, nếu hai anh em tôi không phản ứng nhanh thì qua giây phút thiêng, hai người lính Mỹ trên máy bay sẽ bóp cò súng, hàng nghìn viên đạn đại liên và hàng chục quả rốc kết sẽ găm trực tiếp đến chỗ chúng tôi, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trong tích tắc đó, anh Trần Quy thừa biết, nếu anh cùng xuống hầm với chúng tôi lúc ấy, thì chiếc trực thăng sẽ quyết định bắn rocket phá tan hầm trú ẩn, tôi và cha con anh cũng sẽ chết. Vậy nên chỉ có một trong hai cách, anh chọn cách hy sinh để cứu con anh và tôi được sống! Rút kinh nghiệm chiến trường, anh Trần Quy thả cháu thành trên tay tôi, cố tình chạy ngược về lối cũ để dụ chiếc máy bay trực thăng đuổi theo bắn anh. Hiểu ý anh, tôi đón cháu Thành trên tay anh lui ngay vào hầm chữ Z. Và đúng như anh cũng như tôi dự tính, chiếc trực thăng đã bỏ chúng tôi lại dưới hầm và rượt theo bắn anh. Chiếc trực thăng bỏ chú cháu tôi để rượt theo bắn anh Trần Quy gần nửa tiếng đồng hồ, chúng nghĩ là anh đã chết mất xác dưới những chùm đạn rocket đầy tính hủy diệt, và những làn đại liên 30 của chúng.

Tôi nghe tiếng súng và rốc két bắn liên hồi. Nơi căn hầm tôi nấp ở xóm Tam Bửu thôn Trung, xã điện Thọ lúc ấy chỉ còn là lò lửa… Tôi bồng cháu Thành ngồi trong góc hầm, cháu ho sặc sụa vì khói đạn rocket, nhìn cháu mà lòng tôi rối bời. Ai đã từng tham gia trong chiến tranh chống Mỹ đều biết sự nguy hiểm của loại trực thăng HU1A này, và sẽ hiểu chúng tôi lúc ấy đang lâm vào đường cùng rồi! Ngồi dưới hầm sâu, tôi nghĩ anh Trần Quy trăm phần đã chết. Nhìn đứa cháu trên tay mà lòng quặn thắt… mong cho máy bay ngưng tác xạ và quay về sân bay Đà Nẵng, để bò ra tìm xác anh mình.

Khi nghe tiếng máy bay nhỏ dần… kinh nghiệm cho tôi biết là chúng đã quay về sân bay Đà Nẵng. Ôm cháu Thành vào lòng, tôi bò lên miệng hầm, ý định sẽ chạy về hướng máy bay nổ súng khi nãy để tìm xác anh mình. Vừa bò ra miệng hầm, ngẩng đầu lên thì thấy anh Trần Quy đang đứng trên miệng hầm mỉm cười nhìn tôi, tôi cứ tưởng mình hoa mắt, vì trong lòng nghĩ anh không thể sống được dưới sự truy đuổi của chiếc trực thăng HU1A. Mắt tôi rưng lệ… nhìn anh, chưa tin được là anh vẫn còn sống!

Sau khi thoát chết, chúng tôi đều nghĩ, nếu hai lính Mỹ trên trực thăng muốn giết hai anh em tôi , những Việt Cộng đích thực thì dễ như trở bàn tay. Họ chỉ cần ấn tay lên cò súng đại liên ấy, hoặc thả một trái lựu đạn M26 là đủ cho chúng tôi tiêu đời, chưa nói là họ nả một loạt trái đạn rocket. Quy luật khắc nghiệt của chiến tranh, mà trong đó lương tâm thường bất ngờ hiện diện trong phút giây! Nhờ vậy mà giữa sự sống và cái chết của hai anh em tôi được quyết định trong phút thiêng ấy. Thật oái ăm thay, “phút thiêng” lúc ấy lại do hai người lính Mỹ quyết định, nên họ có quyền chần chừ không nổ súng. Nếu anh em chúng tôi gặp trong trường hợp ấy, chúng tôi cũng sẽ hành động như họ. Vậy nên anh em chúng tôi đã thầm cám ơn họ!

Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng đã hơn 40 năm, nhưng câu chuyện mang hy hữu này luôn hiện diện trong tâm trí tôi. Dù sao với bổn phận của một công dân nước Mỹ, hai người lính ấy phải tuân thủ nghĩa vụ quân dịch của nước mình, vì thế họ đã có mặt tại Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh ấy. Và nhân dân Việt Nam, cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang Viêt Nam cũng luôn tuân thủ nghĩa vụ công dân, tình nguyện hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với bất cứ kẻ thù nào của dân tộc.

Nhắc lại quá khứ của chiến tranh không để thù hận, mà để nhận chân giá trị của hòa bình.

L.T (Nguyễn Thứ)