Nơi anh nằm lại

Chu Cẩm Phong tên thật là Trần Tiến, sinh năm 1941, tại Hội An. Năm 1954, theo cha tập kết ra Bắc. Năm 1964, anh tốt nghiệp loại xuất sắc khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội được chọn cử đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng đã xin về Nam chiến đấu. Anh đã từng công tác tại Thông tấn xã Việt Nam tại khu V, Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ, Sự nghiệp văn chương của Chu Cẩm Phong gồm các tác phẩm như: Vườn cây ăn quả nhà mẹ Thám. Gió lộng từ Cửa Đại. Mặt Biển – Mặt trận. Rét tháng Giêng. Mẹ con chị Hiền. Nhật ký chiến tranh. Tháng 3.2010 Chu Cẩm Phong được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Nơi nhà văn Chu Cẩm Phong hy sinh

Không lâu trước khi ngã xuống bên bờ sông Thu Bồn vào ngày 01.5.1971, nhà văn liệt sĩ – Anh hùng LLVTND Chu Cẩm Phong ghi trong nhật ký: “Trong xã chỉ có cái xóm này là bám trụ tới cùng, hợp pháp tới cùng”. Cái xóm mà nhà văn Chu Cẩm Phong nhiều năm gắn bó và hy sinh ở đấy chính là Vinh Cường, thuộc xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên ngày nay.

Vinh Cường là một thôn khá trù phú của xã Duy Tân. Từ bao đời nay, sông mẹ Thu Bồn đã tưới tắm đồng đất Vinh Cường, tạo nên những bãi nà óng mượt, các loại rau màu như đậu phộng, bắp, ớt… luôn xanh tốt quanh năm. Nhìn vẻ làng quê khang trang hôm nay khó ai có thể tưởng tượng nơi đây thời chiến tranh chống Mỹ là vùng đất bị cày ủi trắng, trần lưng chịu đựng đủ loại bom pháo của kẻ thù. Nhưng đây cũng là vùng đất rất kiên cường. Từ năm 1964, với phong trào đồng khởi ở Vinh Cường ta đã giành quyền làm chủ. Từ năm 1965 đến Tết Mậu Thân năm 1968, Vinh Cường gần như trở thành một vùng giải phóng nho nhỏ bên dòng sông Thu. Cả thôn hồi đó độ 35- 40 hộ dân, rất thuần khiết, không ai theo địch. Tất cả họ gắn bó với cách mạng như một lẽ tự nhiên. Ông Văn Công Mịch, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Xuyên Phú trong chiến tranh giải thích: “Dân ở đây có thù có khổ. Thời thực dân phong kiến, họ đã thấu hiểu sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ nên cách mạng mở ra, họ theo Đảng đến cùng. Tụi địch đánh càng nhiều thì phong trào cách mạng càng lên. Không dễ mà kiếm được cái thôn cái xóm như Vinh Cường”. Suốt những năm chống Mỹ nơi đây trở thành điểm nút trọng yếu trên tuyến hành lang vận tải của cả chiến trường Quảng Đà. Đạn dược, vũ khí từ đường mòn Hồ Chí Minh chuyển về Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An phần lớn đi qua Vinh Cường. Thương binh từ các chiến trường đồng bằng, gạo thóc do dân ủng hộ và mua từ vùng địch kiểm soát đều đi qua Vinh Cường để lên chiến khu. Lãnh đạo đặc khu ủy Quảng Đà thời đó như các ông: Hồ Nghinh, Trần Thận, rồi Bí thư Huyện ủy Duy Xuyên Hoàng Văn Lai trên đường đi công tác… thường xuyên được người dân Vinh Cường đưa đón qua quãng sông này.

Và trong vô số những đoàn cán bộ, bộ đội qua lại Vinh Cường có Chu Cẩm Phong. Trong nhật ký của ông thường xuyên xuất hiện các địa danh Phú Thuận, Phú Đa của Duy Thu, Mỹ Lược, Kiểm Lâm của Duy Hòa, Giảng Hòa của Đại Thắng…. Ông có những trang nhật ký sống động về cuộc sống gian khổ nhưng kiên cường của người dân trụ bám vùng Xuyên Phú, Xuyên Hòa. Đó là cảnh tượng những đám rau muống xanh mướt quanh những miệng hố bom sâu hoắm như thách thức sức mạnh dữ dằn mà man rợ của kẻ thù; trang nhật ký ngày 19.3.1968 ghi cảnh tượng người mẹ cùng đàn con tự giác đi đào những hầm trú ẩn dọc đường làng để cán bộ, bộ đội qua lại có nơi ẩn nấp khi địch bom pháo: “Người mẹ cầm cuốc đào, hai em lớn hơn khiêng chuối cây đã đẵn thành khúc, hai cháu bé nhất lăng xăng bên hầm dùng mẻ chén và tay cào đất. Ba mẹ con làm việc hăng say, hứng thú như nhau, giống hệt nhau”. Ông Lê Yến, nguyên chính trị viên xã đội Xuyên Phú thời chiến tranh (Xuyên Phú nay chia thành xã Duy Phú, Duy Tân) kể: “Có lẽ anh Chu Cẩm Phong đã qua lại Vinh Cường nhiều lần nhưng chúng tôi không biết. Cho đến một lần anh về địa phương, trình giấy giới thiệu do Mặt trận 4 Quảng Đà cấp, đề nghị địa phương giúp đỡ đồng chí Chu Cẩm Phong thực hiện nhiệm vụ. Ban đầu tôi tưởng anh là lính trinh sát. Nhưng mãi chẳng thấy anh yêu cầu gì mà thường ngồi lấy sổ ghi chép. Sau đó tôi đưa anh đi họp chi bộ bất hợp pháp; đưa anh bò vào quan sát địch trong sân bay thuộc khu kỹ nghệ An Hòa. Lần sau gặp lại, tôi hỏi anh đi Điện Bàn hay ở lại. Anh bảo đi Điện Bàn. Khi anh lên có ghé lại Vinh Cường, bà con trụ bám cho anh lon sữa Guigoz (sữa bột của Pháp – người viết). Anh không nhận, bảo xuống đồng bằng đồng bào cho nhiều thứ rồi. Rồi anh lấy kẹo bánh ra mời mọi người, riêng tôi anh tặng một cặp dây dù để cột võng”.

Ông Lê Yến bên bia tưởng niệm nhà văn Chu Cẩm Phong

Vinh Cường nằm không xa quận lỵ Đức Dục, vốn là khu kỹ nghệ An Hòa mà chính quyền Sài Gòn xây dang dở được quân Mỹ biến thành căn cứ quân sự để khống chế một vùng Tây Quảng Nam. Từ sau xuân Mậu Thân 1968, khu căn cứ lõm Vinh Cường là cái gai trong mắt mà chúng quyết nhổ cho kỳ được. Bom pháo, xe tăng, thiết giáp cùng bộ binh địch thường xuyên chà xát cái thôn nhỏ này. Tháng 5 năm 1968 một đơn vị quân Mỹ càn vào Vinh Cường thẳng tay bắn giết 37 người dân gồm người già, phụ nữ và trẻ em. Vụ thảm sát ghê rợn có làm một số hộ dân Vinh Cường rúng động, bỏ làng chạy, một số người ra tận Đà Nẵng. Dẫu vậy vẫn còn khoảng 20 gia đình quyết bám trụ, thủy chung với cách mạng tới cùng. Bà Hồ Thị Cúc, một trong ba đảng viên hợp pháp của Vinh Cường nhớ lại: “Chi bộ hợp có nhiệm vụ giữ cho bằng được nhúm dân này. Chúng tôi luôn đứng mũi chịu sào, mà dân ở đây cũng rất quyết tâm, dù đói dù no họ cũng không rời mảnh đất này. Địch càn xuống đốt nhà, đi cắt tranh, kiếm tre che lại. Năm, bảy ngày sau chúng lại càn xuống đốt. Đốt cái nớ rồi mình làm nên cái khác”.

Trong giai đoạn ác liệt, gian khổ ở Vinh Cường, Chu Cẩm Phong đã về trụ bám khá lâu cùng cán bộ, du kích và dân Vinh Cường. Nhật ký cho thấy anh đã ở Vinh Cường suốt từ ngày 10.4.1971 cho đến khi hy sinh vào ngày 1.5.1971. Chia sẻ hiểm nguy, cần mẫn lấy tư liệu, Chu Cẩm Phong đã viết rất nhiều trang nhật ký về đất và người Vinh Cường. Đọc lại những trang nhật ký chiến tranh khét mùi thuốc súng của Chu Cẩm Phong ngày ấy mới thấy cuộc sống của người dân trụ bám Vinh Cường thật gian khổ, sống chết chỉ gang tấc, nhưng cũng thấy rõ sự gan lỳ và tư thế ung dung của họ – những người biết rõ cuộc chiến đấu của mình là chính nghĩa và tất thắng.

Và đất Vinh Cường cũng đã chứng kiến trận chiến đấu cuối cùng của nhà văn chiến sĩ – trận đánh mà Chu Cẩm Phong đã bộc lộ phẩm chất thực sự của một người anh hùng. Ông Lê Yến nhớ lại: “Buổi chiều hôm nớ mới khoảng 6 giờ anh Phong đã từ xã Đại Thắng vượt sông Thu Bồn qua. Tôi nói anh cứ nghỉ, tôi đi họp. Anh Phong bảo cho anh đi với. Tôi nói anh tháo gùi khỏi lưng, tháo dép cầm tay, nếu pháo bắn chạy khỏi trật dép, chui hầm khỏi vướng gùi. Hồi này ở Vinh Cường rất căng. Vừa nói xong đã nghe tiếng pháo trên Đức Dục đề – pa rụp, rụp, rụp… Rồi đúng y là tràng pháo nổ lộng óc. Anh Phong bảo có gì không mà địch bắn sớm thế. Tôi nghĩ chắc ngày ni bị du kích Vinh Cường đánh rát nên bọn chúng rửa hận. Đêm đó pháo địch bắn nhiều. Tôi với anh họp về thấy heo gà chết tùm lum. Chúng tôi làm thịt gà ăn. Sáng ra nhìn vườn trầu tơi tả, anh nói với cha tôi – ông Lê Hường: Tiếc quá bác hỉ. Rồi địch đổ 6 chiếc trực thăng ở An Hòa. Đến 7 giờ chiếc tàu gáo quần lượn do thám. Nó quần lên Duy Thu rồi quần lại, lập tức bọn trực thăng đổ quân xuống. Chúng tôi xuống hầm bí mật bên bờ suối, gần cầu Mỹ Lược bây giờ. Chiếc hầm được chúng tôi làm công phu, có hai tầng để chống lụt, miệng hầm nằm giữa bụi tre, trên nắp hầm gắn một cây tre khô ngụy trang, địch rất khó phát hiện. Nhưng sáng đó anh Tiềm, Ban An ninh huyện ở dưới Duy Hòa chạy theo bờ suối Mỹ Lược lên kêu cho núp, thằng tàu gáo trinh sát nhìn thấy và chỉ điểm. Bọn địch vây lại quyết bắt cho bằng được. Cuộc chiến sống mái diễn ra suốt buổi sáng. Khi địch đào đám đất để tìm hầm, anh Phong ra lệnh không ai được tự sát, đầu hàng, ta có chết cũng phải bắt địch trả giá đắt. Chú Mai du kích đội nắp hầm vọt đánh lựu đạn chạy thoát, anh Tiềm vừa thò đầu lên bị bắn vỡ sọ. Rồi chúng ném lựu đạn xuống, anh Phong bị thương toác hông nhưng vẫn nén đau hủy tài liệu. Hầm đào vuông góc kiểu thước thợ, nên tôi bị sức ép lựu đạn bất tỉnh. Đến trưa, chúng phá được hầm, lôi xác anh Phong, cô Ta, cô Ca lên, bỏ bên bờ suối Mỹ Lược. Tôi cùng hai người nữa bị bắt đưa đi, tối đó nhờ trời mưa to tôi đã tìm cách trốn thoát”.

Trong trận càn từ ngày 1.5.1971 ấy, ông Văn Công Mịch vì thấy khách đông nên nhường hầm, nhờ vậy may mắn thoát chết. Ông Mịch kể: “Chúng đóng lại Vinh Cường 6 ngày, sau đó rút xuống Duy Hòa. Tháng 5 nắng nóng, khi chúng tôi bám về thì các thi thể đã phân hủy nặng, bốc mùi hôi thối. Tôi cùng ông Lê Hường – cha anh Yến và ông Phụng tìm cách chôn cất các anh chị. Chỉ có cách đào huyệt bên cạnh rồi đẩy thi thể xuống thôi. Hai cô Ca, Ta nằm phía trên, tiếp theo là anh Phong rồi anh Tiềm. Tháng 8 năm 1971, địch càn lớn, đem xe ủi cày trắng cả Vinh Cường, dãy mộ ven bờ thổ suối Mỹ Lược bị vùi lấp cả. Rồi hòa bình vô hợp tác xã, công việc lút đầu, chẳng ai nhớ đến chuyện quy tập. Với lại nơi anh Phong nằm chia về địa phận xã Duy Hòa, may rứa mà không ai tìm kiếm cất bốc, nếu không chắc vô danh hết. Đến khi mẹ anh Phong ở Hội An lên tìm tôi mới nhớ ra, bởi bờ suối nơi an táng các liệt sĩ có cây ngái bên cạnh, không hiểu sao dù bị xe ủi cày lấp nó vẫn sống sót, nứt đọt. Lấy mốc cây ngái, chúng tôi tìm đúng hài cốt từng người. Anh Phong được đưa về an táng tại quê nhà Hội An”.

Hơn 30 năm nay, ông Văn Công Mịch lập hẳn một ban thờ trong nhà để hương khói nhà văn. Vào ngày 01 tháng 5 hằng năm ông Mịch tổ chức làm giỗ. Những người một thời vào sinh ra tử ở Vinh Cường lại tụ hội, nhắc nhớ Chu Cẩm Phong như một thành viên thân thiết. Bia tưởng niệm nhà văn và những người hy sinh bên bờ suối Mỹ Lược ngày ấy luôn được các cựu chiến binh ở đây chăm sóc khang trang.

D.H