Những điểm đứng chân quan trọng của Tỉnh ủy Quảng Nam giai đoạn 1940-1945

Tháng 9.1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp ở Đông Dương đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng Việt Nam. Ở Quảng Nam, Tỉnh ủy và các Phủ ủy, Huyện ủy đều bị vỡ. Tháng 3.1940 tại cửa biển An Hòa, huyện Núi Thành ngày nay đồng chí Võ Toàn tức Võ Chí Công, Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ cùng các đồng chí

Bia di tích nhà ông Ung Tòng, nơi Tỉnh ủy họp bàn chủ trương tổng khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám 1945

Nguyễn Sắc Kim, Khưu Thúc Cự tổ chức hội nghị bầu Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh gồm năm đồng chí, đồng chí Võ Toàn được bầu làm Bí thư lâm thời.

Tháng 10.1940, tại chùa Hang, nằm ở lưng chừng núi Hòn Bà thuộc thôn An Thiện, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam đã tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng để triển khai Nghị quyết Trung ương 6 ban hành tháng 11 năm 1939, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát triển lực lượng, ra báo “Khởi Nghĩa”. Hội nghị Chùa Hang có ý nghĩa như một cuộc Đại hội Đảng bộ Quảng Nam, triển khai đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, chuẩn bị điều kiện tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Sau đó, đồng chí Võ Chí Công được phân công ra Duy Xuyên bắt nối xây dựng cơ sở cách mạng. Đồng chí đã bắt liên lạc được với đồng chí Nguyễn Phước Tuân ở Trà Kiệu Tây, xã Duy Sơn và thành lập Chi bộ Trà Kiệu Tây. Tiếp đó thành lập lại chi bộ Phú Nham Đông gồm sáu đảng viên. Đến tháng 10.1941, chi bộ ở Phú Nham Tây cũng được thành lập với bí danh “Chi bộ Tây Nam”, gồm 10 đảng viên do đồng chí Ngô Hoành làm Bí thư. Ông Ngô Thị, cán bộ lão thành cách mạng ở địa phương cho biết với sự che chở của đảng viên và quần chúng vùng Phú Nham những năm 1940-1941 các đồng chí Võ Chí Công, Nguyễn Sắc Kim, Trương Chí Cương… đã về hoạt động tại Phú Nham, đình làng Phú Nham Tây được chọn làm nơi hội họp và là nơi ấn loát tài liệu của Tỉnh ủy và Xứ ủy Trung Kỳ. Ông Ngô Thị kể: “Hố Ông Còm có nhiều gộp đá, ngày trước cây cối, các bụi dứa rất rậm rạp. Tôi từng nghe các vị tiền bối kể lại rằng các vị cán bộ thời ấy như Nguyễn Sắc Kim, Trương Kiểm, Võ Chí Công thường trú tại nhà các đảng viên Ngô Huy Diễn, Phạm Nại, Nguyễn Lương, Nguyễn Đương, Nguyễn Chước, Nguyễn Quang Hạng… Mỗi khi có động họ theo khe núi lên trú ẩn tại hố Ông Còm này”.

Trên cơ sở xây dựng được cơ sở cách mạng vững chắc, cơ quan Tỉnh ủy đã quyết định chuyển về đứng chân tại xã Quế Hiệp. Cơ sở cách mạng đầu tiên Tỉnh ủy xây dựng được tại Quế Hiệp là nhà bà Lê Thị Sưu ở thôn Lộc Đại. Bà Sưu thường gọi là bà Cửu Viện, thuộc hàng phú nông trong vùng nhưng có tinh thần yêu nước. Căn nhà của bà đã trở thành cơ quan của Tỉnh ủy Quảng Nam và Xứ ủy Trung Kỳ. Ông Phạm Đình Ba, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Quế Hiệp và là một trong những người tham gia xây dựng hồ sơ khoa học An toàn khu Quế Hiệp nên biết khá rõ vấn đề này: “Trong thời gian đóng tại nhà bà Lê Thị Sưu, các đồng chí Xứ ủy và Tỉnh ủy làm việc tại ba phòng phía sau của căn nhà chính, các phòng này có cửa hậu để thoát ra khi cần. Riêng xưởng in thì đặt bí mật phía sau lãm lúa ở nhà dưới. Các đồng chí ấy rút lên Suối Tiên, Hóc Xôi trú ẩn khi mật thám lùng sục. Bà Sưu nhanh nhẹn khéo léo đã lo chu toàn việc cung cấp thức ăn, tình hình cho cán bộ Xứ ủy, Tỉnh ủy”.

Từ cơ sở Lộc Đại, Tỉnh ủy gồm các đồng chí Nguyễn Sắc Kim, Võ Chí Công, Huỳnh Cự, Trương Chí Cương phát triển phong trào và chuyển cơ quan về đứng chân tại nhà đồng chí Đoàn Sơ, làng Nghi Sơn, xã Quế Hiệp. Trong cuốn hồi ký Trên những chặng đường cách mạng, đồng chí Võ Chí Công kể lại rằng: “Cha đồng chí Đoàn Sơ là một trung nông, hiền lành, đôn hậu, tuy hiểu biết về cách mạng không nhiều nhưng rất trung thành. Ông có nhiều tình cảm sâu sắc với cán bộ thoát ly hoạt động ở trong nhà, luôn chăm lo, nuôi nấng bảo vệ tận tình mọi người. Chị vợ đồng chí Sơ là một phụ nữ đảm đang việc gia đình, làm công tác phụ nữ trong thôn xóm. Tuy con còn nhỏ nhưng đối với cách mạng chị rất nhiệt thành, tận tụy”. Theo ông Phạm Đình Ba, sở dĩ vùng Nghi Sơn được lãnh đạo Tỉnh ủy hồi đó chọn làm “đại bản doanh” trước hết là vì nơi đây đảm bảo điều kiện địa lợi, nhân hòa: “Từ  Nghi  Sơn đi về vùng Đông, vùng Trung, phía Tây huyện Quế Sơn đều rất tiện đường, hoặc men theo các đường mòn về vùng trung Duy Xuyên cũng thuận tiện”. “Ngoài cơ sở trung kiên là gia đình ông Đoàn Sơ, nhiều gia đình ở Nghi Sơn đã tích cực giúp đỡ cán bộ Tỉnh ủy, Xứ ủy về lương thực, quần áo và dẫn đường cho cho các đồng chí cán bộ hoạt động tại đây. Tiêu biểu là gia đình bà Nguyễn Thị Châu, Đinh Thị Kỉnh, bà Phạm Thị Xờm và một số gia đình khác”, ông Phạm Đình Ba kể thêm.

Tại Nghi Sơn, tháng 10.1941, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị nghe Xứ ủy truyền đạt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương về chuyển cách mạng Việt Nam sang giai đoạn mới – xây dựng lực lượng chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa. Theo đó, Tỉnh ủy triển khai chủ trương mở rộng Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, đảng phái hướng vào mục tiêu chung đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật giành giải phóng dân tộc. Xây dựng các đội tự vệ, luyện tập quân sự, rèn sắm vũ khí, xúc tiến việc lập các chiến khu, chuẩn bị các điều kiện đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Đứng chân tại Nghi Sơn, Tỉnh ủy đã lãnh đạo phong trào cách mạng Quảng Nam phát triển mạnh mẽ, nhưng rồi lại bể vỡ. Tuy vậy cơ sở Đảng nhiều nơi trong tỉnh vẫn tồn tại. Đặc biệt, làng Kim Bồng nay thuộc xã Cẩm Kim, thành phố Hội An vẫn là địa bàn khá an toàn. Tháng 6.1942, trên chiếc thuyền lưu động ngang qua làng Kim Bồng, đồng chí Võ Chí Công, Nguyễn Sắc Kim, Nguyễn Tấn Ưng tổ chức Hội nghị thành lập Liên Thành, Tỉnh ủy Quảng Nam – Hội An – Đà Nẵng. Liên Thành – Tỉnh ủy đứng chân ở Duy Xuyên và Hội An, ra báo Cờ Độc Lập. Ở Cẩm Kim mà chủ yếu là làng Kim Bồng có những cơ sở rất trung kiên như nhà gia đình ông Nguyễn Hàng, Trương Tòng, Trần Tân… Họ vừa nuôi nấng, che giấu cán bộ cách mạng, vừa tổ chức nơi in ấn, phân phát báo Cờ Độc Lập và các tài liệu khác. Chùa Kim Bồng lúc này là ngôi chùa làng lợp tranh, là nơi an toàn để tổ chức các cuộc họp quan trọng. Từ khi thành lập Liên Thành – Tỉnh ủy đến tháng 3.1943, tổ chức và phong trào cách mạng trong tỉnh phục hồi tương đối nhanh. Tỉnh ủy đã xây dựng được các chi bộ ở các huyện, thị: Hội An, Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc… Tuy nhiên, đến đầu năm 1943 vụ “vé số cứu quốc” ở Duy Xuyên vỡ lở, địch mở hàng loạt cuộc vây ráp bắt giam hàng trăm người. Các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy như Võ Chí Công, Nguyễn Sắc Kim cũng sa vào tay giặc, Tỉnh ủy bị bể vỡ; phong trào cách mạng trong tỉnh một lần nữa tạm lắng.

Hố ông Còm – xã Duy Sơn, Duy Xuyên, nơi cán bộ Tỉnh ủy ẩn nấp khi bị địch truy tìm

Tháng 4.1944, hội nghị thành lập lại Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam đã diễn ra tại chùa Kim Bửu, làng Kim Bồng. Tỉnh ủy gồm ba đồng chí: Trần Văn Quế, Nguyễn Tiến Chế, Nguyễn Văn Ưng; đồng chí Trần Văn Quế làm Bí thư. Bên cạnh nơi đứng chân ở làng Kim Bồng, Hội An lúc này Tỉnh ủy còn đặt cơ quan tại Diêm Trường thuộc xã Tam Giang và các làng Thọ Khương, Vân Trai, Vĩnh Đại xã Tam Hiệp huyện Núi Thành ngày nay. Ở Tam Giang, cơ sở tin cẩn là gia đình các ông Nguyễn Hậu, Lương Hiệp… Ở Tam Hiệp nổi bật là các cụ Trà Ngôn, Lê Đạt, Bùi Thị Thời, Nguyễn Thị Muộn, Nguyễn Hạnh…, trong đó tiêu biểu nhất cụ Nguyễn Kế. Với sự đùm bọc che chở của người dân yêu nước Tam Hiệp, cán bộ Tỉnh ủy Quảng Nam như Nguyễn Sắc Kim, Trần Văn Quế, cán bộ Xứ ủy Trung kỳ như Chu Huy Mân đã thường xuyên về đây hoạt động… Đến tháng 02.1945, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị tại Vân Trai, xã Tam Hiệp, chủ trương đẩy mạnh xây dựng tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh các phủ huyện, đưa phong trào toàn tỉnh lên theo kịp phong trào chung của cả nước. Tại Núi Thành, Tỉnh ủy cũng đã thành lập đội du kích Vũ Hùng, tiền thân của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam sau này.

Ngày 10 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Tháng 4.1945, cơ quan Tỉnh ủy chuyển ra đóng tại nhà ông Cửu Sang nay thuộc khu vực Bà Rén, xã Quế Xuân 1. Tại đây, Tỉnh ủy đã nhận được bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Quán triệt tinh thần của Chỉ thị, Tỉnh ủy Quảng Nam đã khẩn trương củng cố tổ chức Đảng, phát triển đoàn thể cứu quốc, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang. Khí thế quần chúng lên cao, bộ máy thống trị suy yếu,  điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi.

Ở Quảng Nam, trong những ngày tháng Tám lịch sử năm 1945, không khí chuẩn bị khởi nghĩa lan rộng. Tại nhà ông Ung Tòng ở thôn Khương Mỹ, nay là thôn Bích Sơn, xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành ngày 12 và 13.8.1945 Tỉnh ủy Quảng Nam triệu tập cuộc họp thì được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngay lập tức Tỉnh ủy quyết định chuyển địa điểm sang nhà ông Nguyễn Chiến để thuận lợi cho việc tiếp nhận tin tức và tổ chức công tác chuẩn bị. Tại cuộc họp lịch sử này, Tỉnh ủy quyết định phát động khởi nghĩa trong toàn tỉnh. Tối ngày 14.8.1945 cơ quan Thường trực Tỉnh ủy chuyển từ Bà Rén (Quế Sơn) ra nhà ông Nguyễn Xuân Vân làng Bích Trâm nay thuộc xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn để kịp thời chỉ đạo phong trào. Tại đây, Thường trực Ủy ban bạo động tỉnh đã quyết định Hội An nghĩa giành chính quyền đầu tiên. Đêm 17 rạng ngày 18.8.1945 Hội An khởi nghĩa thắng lợi, châm ngòi nổ cho một loạt phủ huyện trong tỉnh nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền. Điều này khẳng định sự năng động, sáng tạo của Đảng bộ Quảng Nam trong quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng.

Có thể thấy, trong thời kỳ 1930-1945 Tỉnh ủy Quảng Nam chưa có căn cứ địa, chủ yếu là xây dựng đựng điểm đứng chân ở nhiều địa bàn phủ huyện và đô thị. Đặc biệt, trong giai đoạn 1940-1945 tình hình cách mạng chuyển biến nhanh, Tỉnh ủy đã tiếp thu kịp thời các chủ trương của Trung ương, xây dựng các điểm đứng chân thích hợp, thuận lợi trong chỉ đạo chung, thúc đẩy phong trào cách mạng của tỉnh phát triển thuận lợi. Đảng viên và quần chúng trung kiên ở những nơi này đã hết lòng đùm bọc, che giấu, giúp đỡ cán bộ thoát ly hoạt động. Nhiều cơ sở mặc dầu bị địch tù đày tra tấn dã man vẫn một lòng trung thành, bảo vệ tốt cơ quan đầu não của Đảng bộ. Đấy là một trong những nguyên nhân căn bản giúp Quảng Nam trở thành một trong bốn tỉnh của cả nước đã khởi nghĩa và giành thắng lợi sớm nhất Cách mạng tháng Tám 1945.

D.H