Nhớ thời hoa – lửa

Phát, người mai táng người đồng đội bên cầu biên giới năm xưa và Châu, người sưu tầm kỷ vật “ký ức chiến trường”

Hắn. Thằng em cùng đơn vị ngày còn ở chiến trường, đi chiếc xe máy cà tàng ghé về thăm nhà tôi trên quê cách hơn ba mươi cây số với chiếc chân cụt. Hắn đi mời đám cưới con trai. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Giữa trưa, trời nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhại, anh em ngồi lai lai chuyện trò. Kỷ niệm lại ùa về trong mỗi chúng tôi thời trận mạc. Tính hắn ít nói, chỉ cười và hay hát. Hắn cũng là cây ghi-ta giỏi nhất đơn vị tôi lúc bấy giờ. Ba mấy năm rồi từ ngày trở về, gặp lại, hai anh em cứ huyên thuyên biết bao là chuyện.

Hòa – tên của hắn, đi bộ đội năm 18 tuổi, lúc ấy tôi đã hai lăm, hai sáu. Tôi đã ba năm lính thì Hòa mới nhập ngũ. Vào lính, cùng ở tiểu đoàn, Hòa trinh sát, tôi bộ binh nhưng vẫn thường xuyên gặp nhau, nhất là mỗi lần chiến dịch.

Tôi nhớ, trận đánh vào Cứ điểm 547 của Khơ-me đỏ mùa khô năm 1983, đường hành quân vào đất địch dài hàng trăm cây số, băng rừng, xuyên núi, máu rướm cả đôi bàn chân, vừa đi vừa ngủ cho kịp giờ nổ súng. Giữa đường, tôi lên cơn sốt rét. Hòa và đồng đội phải mang hết quân tư trang, vũ khí, lương thực cho tôi, dìu tôi đi cho kịp đội hình. Thiếu nước, Hòa vắt nắm bùn ở một con suối vừa khô lấy được một nắp bi-đông cho tôi nuốt mấy viên thuốc để qua cơn sốt kinh người. Vào vị trí chiếm lĩnh trận địa, chúng nó còn đào công sự cho tôi, ấy vậy mà chúng nó lại tỉnh queo như không có chuyện chi xảy ra. Trận đánh hôm đó, Hòa dẫn đầu đội hình của một đại đội bộ binh xông lên chốt địch, lọt vào giữa bãi mìn. Anh em số lớn là tân binh, ít kinh nghiệm chiến trường, tiếng mìn nổ mà cứ tưởng tiếng DKZ địch bắn tới nên quân ta thương vong nhiều. Lần ấy, Hòa và tổ trinh sát bám trận địa đưa anh em bị thương và tử sĩ ra ngoài rồi tiếp tục xông lên chốt địch. Sau khi kết thúc chiến dịch, chúng tôi rút về “Xa Em”, nơi có nghĩa trang của đơn vị, ra đắp mộ bạn bè trước khi về hậu cứ, Hòa đã khóc thật nhiều bên những ngôi mộ mới, cỏ mọc chưa xanh của các đồng hương vừa nằm lại, tôi mới biết hắn cũng là người “mau nước mắt”. “…mày nằm lại nghĩa trang Xa Em/ Kỷ niệm ấy bọn tao luôn nhớ/ Một lần xung phong chốt thù rực lửa/ Đôi mắt rưng rưng khi ôm xác bạn bè…”.

Lan man kỷ niệm, bỗng Hòa hỏi tôi: “Anh còn nhớ chuyện đêm mình dừng nghỉ ở cầu Sê-rê-pốc trước khi lên Ngã Ba Biên không?”. Tôi nói: “Nhiều chuyện quá làm sao tao nhớ hết?”. Rổi hắn kể luôn.

Lần ấy, trên đường chiến dịch, chúng tôi dừng quân bên cầu Sê-rê-pốc. Đêm ấy, nghe anh em của Tiểu đoàn 280 kể rằng khi chiều vừa vớt được một xác người trên bến sông. Đầu tiên cứ nghĩ là xác của một người bình thường, nhưng khi lại gần mới phát hiện ra, anh ta mặc chiếc quần đùi có dây rút (chỉ có của bộ đội Việt Nam); trên tay còn có vết xăm hai chữ “nhớ mẹ”. Biết đây là đồng đội của mình hy sinh, Phát, quê Đà Nẵng, chiến sĩ của Tiểu đoàn 280 Công binh đã cùng anh em trong đơn vị mai táng anh ấy trên một ngọn đồi gần bến sông ngay chiều hôm ấy. Chuyện xảy ra đã lâu, hôm sau chúng tôi tiếp tục hành quân vào trận, chiến đấu rồi ra quân, chi tiết ấy không còn ai nhớ nữa, đã quá vãng mấy chục năm rồi còn gì.

Vừa rồi, nhân Đài Truyền hình DRT của thành phố Đà Nẵng làm phim tài liệu về những người lính tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, trong đó có nói về những kỷ vật bảo tàng của Trà Văn Châu (cũng là đồng đội cũ đã cất công sưu tầm hơn hai mười năm). Phim cũng nói về Hòa với chiếc chân giả mưu sinh sau khi rời quân ngũ. Vô tình, Phát người chiến sĩ Tiểu đoàn 280, người đã chôn cất đồng đội năm xưa được xem phim mới liên hệ với Châu và Hòa để tặng chiếc võng, kỷ vật chiến trường bổ sung vào bộ sưu tập và nhân đó anh kể cho Hòa nghe tiếp tục của câu chuyện người lính mất tích ấy rằng: người mẹ của đứa con trai hy sinh, quê tận Ninh Thuận, gần đây bà chiêm bao thấy con bà về báo mộng nhiều đêm, rồi bằng một nghị lực phi thường và cả tình yêu thương con thiêng liêng vô bờ bến đã thôi thúc, dẫn dắt bà lặn lội tìm đến nhà Phát, nhờ đưa bà qua tận nơi anh từng chôn cất con trai của mình năm ấy. Phát nhận lời cùng bà thuê xe qua tận Campuchia, đến bên cầu Sê-rê-pốc tìm mộ con mình. Kỳ diệu thay, khi đến nơi, ngôi mộ vẫn còn đó, được người dân nơi đây chăm sóc, gìn giữ, thờ cúng như người thân. Theo lời Phát kể lại, khi người mẹ cùng Phát đến bên mộ, chợt người tài xế Campuchia nhưng biết nói tiếng Việt bỗng thốt lên như đồng nhập: “Mẹ ơi! Con được gặp mẹ rồi!”. Rồi anh ôm bà khóc đến một lúc thì ngất đi. Sau khi tỉnh lại người ta hỏi anh chuyện gì xảy ra, anh lắc đầu trả lời là không biết chi hết. Người dân gần ngôi mộ của người lính còn kể lại rằng, những đêm trăng sáng họ thường thấy có bóng dáng của một người lính Việt Nam ngồi bên ngôi mộ của mình, họ cho là linh thiêng nên thường đến thắp hương mỗi khi đi qua nơi này. Người mẹ đã trở về quê sau chuyến đi ấy. Hồ sơ của người lính đến bây giờ vẫn ghi “mất tích”. Đơn vị cũ của anh đang tích cực hoàn chỉnh thủ tục để anh được Nhà nước công nhận liệt sĩ và tổ chức đưa phần mộ anh về với quê hương, với mẹ già.

Hòa bị thương trong chiến dịch Ngã Ba Biên khi trung đội của hắn lọt vào giữa bãi mìn của tàn quân Pôn-pốt. Một trái mìn 652A băm nát một bàn chân. Kinh nghiệm chiến đấu thời ấy, nếu lỡ vấp phải mìn, nếu còn sức thì phải đứng nguyên tại chỗ, không được ngã vì nếu ngã xuống sẽ chạm vào những trái mìn khác. Khi trái mìn nổ vào chân, Hòa chống khẩu súng AK đứng chờ đồng đội đến giải cứu. Tiểu đội của Hòa rà gỡ những quả mìn khác và có đến một rổ trước khi cõng Hòa ra ngoài. Hòa ngất đi trên tay đồng đội vì mất máu quá nhiều trước khi bạn bè đưa đến trạm phẫu tiền phương. Lúc Hòa bị thương, tôi còn ở trên chốt. Khi đưa thương binh về phẫu thuật, tôi ghé qua thăm, lúc Hòa vừa cắt chân xong. Tỉnh lại, Hòa nói với tôi một câu có vẻ triết lý: “Xui hên là lẽ thường trong cuộc đời anh hỉ? Không chết là may rồi. Em về trước, mai mốt hết chiến dịch anh về sau nghe! Nhớ cẩn thận. Chiến trường súng đạn có chừa ai đâu!”.

Hòa được chuyển về Việt Nam chữa trị vết thương. Lành. Hòa ra quân. Một năm sau chúng tôi mới trở về. Về quê, sống đời thường. Tật nguyền. Cuộc sống khó khăn nhưng Hòa luôn tỏ ra là một người có bản lĩnh. Bơm ga, sửa khóa, đánh đàn đám cưới để mưu sinh. Hòa luôn thể hiện bản chất “người lính Cụ Hồ”. Những ký ức chiến trường, đồng đội, khắc trong tâm khảm hắn như một báu vật. Mỗi lần gặp lại, chúng tôi tay bắt mặt mừng, kỷ niệm thời trận mạc luôn tươi rói, máu thịt. Hòa nói, về lại quê tật nguyền tưởng chẳng ai thèm ưng, may còn có phước được vợ thương, cưới nhau sinh con đẻ cái là quý rồi. Bây chừ lên mời anh đi dự đám cưới.

Quá chiều, hai anh em và một mớ ký ức ba mươi năm dư đầy ắp những khuôn mặt bè bạn: “…Những người lính bao năm gặp lại/ Ly rượu phơi phong và câu chuyện xửa xưa/ Ngoài xa tiếng rừng vọng gió/ Ngoài xa tiếng mưa đại ngàn/ Đồng đội tôi/ Khúc thức hòa âm tháng ngày trận mạc/ Đã bạc những mái đầu/ Thương một thời/ Hoa/ Lửa/ Có nhau…

Quê nhà, tháng 7.2019

              N.H.T