Nhớ bữa rượu rùa trên thượng nguồn Thu Bồn

Chiều đó, mặt trời sắp chìm sau dãy Trường Sơn rồi, cũng là lúc ba thằng lếch thếch máy móc áo quần lấm lem ướt tả tơi và lạnh cóng lội từ rừng ra tới bờ sông. Đây là bến Tí Sé ở thượng nguồn. Hồ Tấn Vũ, lúc đó là phóng viên Báo  Pháp Luật TP.Hồ Chí Minh, e hèm : “Không kiếm được đò về, là ăn mày cả bầy anh hè…”. Cuối năm, tầm tã mưa lạnh. Đêm qua, chúng tôi cũng đã ngủ trong lạnh cóng tại nhà của thầy giáo Mễ ở Cấm La xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn. Lơ ngơ gióng mắt tìm, thì thấy có chiếc đò đang xuôi. Ới một tiếng. Mừng quá.

Lên đò, tôi biết tên bà là Hai Tròn. Có hai thằng con đi cùng mẹ. Họ lấy đò làm nhà, sông là quê, lênh đênh đánh cá kiếm sống. Thằng con đầu của bà nghe nói học giỏi, không chịu theo mẹ mà quyết học hết 12 rồi xuống Đà Nẵng thi đại học. “Con không muốn cứ ri miết…”. Bà thở dài nhìn con. Tôi đã gặp khá nhiều những cảnh ngộ như thế ở dải đất nghèo này. Có người mẹ nào muốn con thất học, suốt đời làm mướn làm thuê, sống cảnh gạo chợ nước sông trôi nổi. Nhưng nó đi học, bà lấy chi nuôi? Bao bà mẹ, bao đứa con, nếu may mắn thì cánh cửa số phận sẽ mở, tất nhiên sẽ sấp ngửa với toan lo. Còn không, sẽ không bao lâu nữa, đứa con sẽ hóa lão trên khoang thuyền; mẹ sẽ già đi và mang theo nỗi buồn phận nghèo rách nát… gia truyền. Tôi nói với thằng nhỏ: “Ráng đi, phải học, đừng nghĩ ngày mai sẽ làm bà nọ ông kia, học rồi tính”. Như có  thêm “lửa”, nó hăng lên  “dạ” thiệt to.

Trong ba lô Hồ Tấn Vũ có chai rượu gạo. Tôi nháy hắn: “Làm xị hè?”. Hình như chỉ chờ có thế, y cười như… nghé. Mồi mô ra? Trời lạnh, sông nước lênh đênh, “bèo dạt về đâu, hàng nối hàng”,  mấy thằng nhà báo thì phận có khác chi mẹ con bà Hai, không uống được trận rượu trên ghe, thì sống phí đời. “Cô có cá không, bán cho tụi con ít làm mồi nhậu?”. “Cá mô có, đánh cả buổi, trất máu…”. “Rứa coi còn chi không?”. “Có con rùa được không?”. “Trời”. Tôi đã quá, không kìm được. Thế là bà Hai vào khoang. Khói tỏa theo nhịp mái chèo của thằng con. Nó đen cháy mà mắt sáng trưng. “Con định xuống Đà Nẵng thi tin học. Trên ni chưa thấy ai học cái nớ, con ưng theo ngành nớ, bí thì sửa máy tính kiếm tiền”. Tôi gật cái rụp. Đường chân trời, khi đứng trước khát vọng con người, luôn bị phá bỏ. Ngó thằng nhỏ khoát mạnh tay chèo, tôi hình dung cú rướn số phận.

Mồi dọn ra ngay mũi thuyền. Mặn chết lưỡi, nhưng sảng khoái ác liệt. Cứ thế mà uống. Nghề báo khiến tôi sa vào không ít trận rượu trong Nam ngoài Bắc, nhưng nếu sót lại sau những hải hồ, thì bữa rượu rùa muối này chắc chắn không vắng mặt. Không chỉ tôi, Vũ thỉnh thoảng nhắc như nuối tiếc những ngày tháng ngao du, mà bây giờ công việc, tuổi tác, dẫu chân đi chưa dừng lại, nhưng khung cảnh, những cái nhìn chiều trên sông Thu bữa đó, khắc vào não một cái tên có lẽ không từ nào thay thế được “quá đã”. Tôi ám ảnh gương mặt và lời ra tiếng lại của mẹ con bà Hai. Không hiểu sao cứ mỗi khi đi qua dòng sông nào đó, chiếc thuyền cũ chở ba phận người nhỏ bé đó lại trôi về. Dùng dằng ngược xuôi như con nước không chịu thuận tay chèo. Tôi nghĩ, nó như con người đứng trước những chọn lựa mà đời sống không hề rộng lòng ưu đãi.

Hết rượu. Ghe cũng ghé bến. Từ đó, biền biệt xa. Lâu rồi tình cờ tôi gặp một người cũng chèo lưới trên đoạn đó, ông trố mắt “răng biết bà Hai Tròn”. Rồi ông cũng cho hay, bà Hai không còn làm lưới nữa, đã lên bờ, thằng con đã đi học nghề, không rõ nghề chi. Mong sao đâu đó, nó làm được cái nghề nó thích, sống an lành. Mơ ước con người ta, trời đất chi cũng quy về một chữ bình yên và vui sống.

L.T.V