Nhân kỷ niệm 60 năm ngày học giả Phan Khôi qua đời (16.01.1959 – 16.01.2019): Phan Khôi với con đường tự học thành tài

Hồi cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và sự bất lực của vua quan triều Nguyễn, dân ta đã đói ăn đói mặc, lại còn thất học, mù chữ. Việc học chỉ dành cho một ít con nhà quan, nhà giàu và chỉ có con trai mới được cha mẹ cho tới trường. Học là học chữ Hán với những thơ, những phú cùng các bộ sách cổ của Tàu, là lối học từ chương khoa cử vô bổ. Cách học cũng khác xa bây giờ: học trò đi học là đến học ở nhà thầy, ngồi lê trên nền nhà, ngồi cả trên thềm, gặp ngày thi, đông người, thì ngồi tràn cả ra sân, ra vườn. Đến lớn mới đi học trường Huấn của huyện hoặc trường Giáo của phủ, rồi mới học đến trường Đốc của tỉnh để dự kỳ thi Hương, kiếm chút Cử nhân đặng ra làm quan, làm kẻ ăn trên ngồi trốc. Cảnh học đìu hiu như thế, mà ở nước ta có rất nhiều ngôi làng, rất nhiều họ tộc nổi tiếng hiếu học, thành tài, trong đó có làng Bảo An xưa ở trung tâm Gò Nổi của xứ Quảng. Ở Gò Nổi đã có nhiều người hiếu học, tài đức thuộc các dòng họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê Đình, họ Phan, họ Hoàng, họ Phạm Phú…, trong đó có Phan Khôi (1887 – 1959) người làng Bảo An, chỉ bằng con đường tự học mà thành tài, trở thành một học giả nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho nền văn hóa dân tộc.

Hồi nhỏ, Phan Khôi có mười năm được theo học với danh sĩ – nhà ái quốc nổi tiếng Trần Quý Cáp (1870 – 1908) ở thôn Thai La, làng Bất Nhị (nay là xã Điện Phước), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thầy Trần sống và dạy học dưới một mái nhà tranh ba gian hai chái, ở tận cuối làng, cư dân thưa thớt. Gia tài nhà thầy áng chừng không đến vài trăm bạc theo giá đồng tiền hồi ấy. Học với thầy Trần, học trò không phải đóng học phí. Đã thế, thầy cũng chẳng kể chi đến công dạy dỗ: mỗi năm mấy kỳ lễ, Tết, học trò đi bao nhiêu thì đi, thầy chẳng kể nhiều, ít. Thường thì học trò chỉ Tết thầy ba quan tiền với quả nếp hay quả gạo, trò nhà giàu có khi Tết thầy sáu quan tiền hay một đồng bạc cùng với hoặc là rượu, hoặc là bún, là trà… Tính ra, mỗi kỳ như rứa, thầy Trần thâu vào không đầy trăm bạc, bởi vậy cuộc sống của thầy rất chi là đạm bạc. Nhưng tiếng dạy giỏi của thầy Trần thì lan ra tận tỉnh ngoài, học trò theo học thầy rất đông, có lúc lên đến vài ba trăm đứa lớn, nhỏ trải đến tận Bình Thuận.

Phan Khôi là con cháu nhà quan, ông nội làm Án sát tỉnh Khánh Hòa, bị cách chức; cha làm Tri phủ phủ Diên Khánh cùng tỉnh, xin về hưu năm ba mươi chín tuổi, cảnh nhà thanh sạch. Trò Phan được cha cho theo học thầy Trần ở làng Bất Nhị, nên phải ở trọ tại nhà một người bà con ở làng Kỳ Lam, gần ga xe lửa sau này. Từ nhà trọ, đường đến nhà thầy cũng phải vài ba cây số, nên trò Phan phải thức dậy từ lúc còn tối đất, thắp cái đèn dầu phụng ăn vội ba hột cơm với mắm cái để còn chạy bộ đến nhà thầy cho kịp giờ học. Bà nội chỉ gởi cho chủ nhà hai ang gạo với ba quan tiền để nhờ họ nuôi cơm thằng cháu đích tôn cho một tháng trọ học. Còn mặc thì được một cái áo dài đen, hai cái áo dài trắng; quần được ba cái, để còn thay ra thay vào, tất thảy đều bằng thứ vải bông ta của nhà dệt lấy. Khăn bịt đầu được một cái, nên chỉ hôm nào nghỉ học trò Phan mới dám đem giặt. Thầy đã nghèo, cảnh trọ học của trò cũng kham khổ, nhưng thầy thì dạy giỏi nức tiếng, còn trò thì cũng học giỏi nhứt, nhì trường. Trò Phan, từ nhỏ đã có tư chất thông minh khác thường: năm đầu vào lớp đã làm được cả kinh nghĩa trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba. Nhờ sức học đó mà tuy chỉ mới bước chân vào trường, cậu đã được thầy Trần xếp cho vào học trường nhì, rồi trường ba. Sau này lớn lên, học trường Giáo, trường Đốc, trò Phan càng nổi tiếng là người học giỏi, trí nhớ phi thường.

Kỳ thi Hương năm Bính Ngọ (1906) tại trường thi Thừa Thiên ở kinh đô Huế, Phan Khôi tuy học giỏi nhưng chỉ vớt được cái Tú tài. Đã đành là học tài thi phận, nhưng ở đây lại không phải như thế, mà vì đám quan chấm trường ăn của đút, dành ngôi đậu cao cho đám con nhà giàu. Uất ức và thất vọng, cho rằng trình độ giám khảo quá thấp kém, chấm bài hồ đồ, Phan Khôi òa lên khóc tức tưởi. Bước ra khỏi trường thi, chàng trai viết lên tường mấy câu cho bõ tức, trước sự ngạc nhiên có phần lo sợ của chúng bạn:

Một bầy ngu dại dốt như trâu

Để tang cho tớ dễ nào đâu

Thà chịu dân ngu đen dưới đít

Còn hơn quan chức trắng trên đầu

Rồi Phan Khôi cùng bạn thi là Dương Thưởng, Dương Thạc đứng đơn kiện sự thủ sĩ bất công, tức là kiện sự lấy đậu đánh rớt không công bằng của khoa thi đó. Đơn gửi về tòa Khâm sứ cùng Viện cơ mật, chứ không gửi bộ Học như những trường hợp khác. Mấy tháng sau đám quan trường ăn bẩn bị truy cứu, đám con nhà giàu học dốt nhưng nhờ đút tiền mà đậu, cũng bị đánh rớt bay. Như người khác thì sẽ về học lại rồi năm sau đi thi lần nữa để ít nhất cũng kiếm được cái Cử nhân đặng ra làm quan, nhưng chàng trai họ Phan làng Bảo An thì không nghĩ như thế và cũng không làm như thế. Phan Khôi được ảnh hưởng từ ông nội và cha tư tưởng ghét Tây, coi rẻ triều đình nhà Nguyễn bất lực; lại thực tâm đã chán ghét lối học từ chương khoa cử chỉ để ra làm quan, nên nhân cớ đó, cùng với các bạn học như Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Lê Dư… hoạt động tích cực trong Phong trào Duy Tân dưới sự dẫn dắt của các bậc túc nho ái quốc là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Và cũng từ đấy, Phan Khôi bắt đầu con đường tự học để đủ sức đeo đuổi con đường đã chọn, là theo nghiệp viết báo với mục đích khai dân trí và phản biện xã hội, mà như có nhà nghiên cứu sau này đã nhận định: Phan Khôi chính là người thực hành hiệu quả nhất chủ trương Duy Tân của Phan Châu Trinh.

Học theo kiểu Phan Khôi học ở trường của thầy Trần Quý Cáp, thì gọi là học trường cũ. Như ở trên đã có nói, loại trường này chỉ dạy chữ Hán, còn chữ Quốc ngữ – tức là chữ Việt và ngữ pháp tiếng Việt bây giờ – thì thầy không dạy và cũng không thể dạy được. Chữ Quốc ngữ là thứ chữ hình thành chưa lâu, lại mới thay thế chữ Hán trong các văn tự nhà nước, nên còn là thứ chữ lạ với dân ta, thậm chí còn bị bài xích, ghét bỏ vì coi là thứ chữ của bọn Tây dương. Vậy nên, trong các hoạt động Duy Tân, các nhà yêu nước cho mở ra nhiều lớp học thứ chữ ấy của chính dân tộc mình, điều đó rất hợp với ý tưởng của những nhà Duy Tân trẻ tuổi như Phan Khôi. Kể từ đó, Phan Khôi để tâm tìm hiểu, nghiên cứu về sự hình thành tiếng Việt, về các mẹo luật của tiếng Việt, về ngữ pháp tiếng Việt, về cách nói tiếng Việt thế nào cho đúng, viết tiếng Việt thế nào cho đúng. Cả đời mình, ngay cả lúc tuổi tác đã cao, thì việc làm thế nào để tiếng Việt của ta mỗi ngày một phát triển, mỗi ngày một hiện đại, đủ sức phiên dịch được các thứ tiếng nước khác một cách chính xác, khoa học, vẫn là cái đích Phan Khôi theo đuổi suốt đời. Cả đời Phan Khôi theo nghiệp viết báo, nên một trong những cái thu hút sự quan tâm của ông là tiếng Việt, chả thế mà trên mặt báo ông giữ vai Ngự sử văn đàn. Trong kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) Phan Khôi tiếp tục nghiên cứu tiếng Việt ở Việt Bắc, và năm 1955, ở Hà Nội, ông cho xuất bản tác phẩm Việt ngữ nghiên cứu. Môn ngữ văn, trong đó có ngữ pháp tiếng Việt đang dạy ở các cấp học phổ thông bây giờ, có sự đóng góp rất đáng kể của Phan Khôi từ những năm tháng cơ cực ấy trên Việt Bắc. Do những đóng góp của ông trên nhiều lĩnh vực văn hóa và học thuật, mà ngày nay người ta coi Phan Khôi là nhà văn, nhà báo, nhà tư tưởng…, nhưng không một ai quên kể ông là một nhà ngôn ngữ học hoặc một nhà Việt ngữ học ở cả phần lý thuyết lẫn thực hành.

Riêng cái công phu Phan Khôi tự học tiếng Pháp để trở thành một dịch giả có uy tín, còn lý thú hơn, chỉ xin kể vài ba chuyện. Đầu năm 1908, Phan Khôi được các yếu nhân của Phong trào Duy Tân Quảng Nam cử đi Hà Nội cùng với một số chí sĩ Duy Tân trẻ tuổi khác. Ra đến Hà Nội, do mật thám Pháp lùng sục dữ quá, các chàng trai xứ Quảng phải phân tán khỏi Hà Nội, do đó Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác và Mai Dị lánh xuống Nam Định học tiếng Pháp với cụ Nguyễn Bá Học. Hơn một tháng sau, ba người trở lên Hà Nội, thì Phan Khôi và Mai Dị bị bắt liền, chỉ có Nguyễn Bá Trác là thoát thân. Nguyên do là cũng trong thời điểm ấy, trong huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam nổ ra Vụ xin xâu, rồi lan ra cả tỉnh Quảng Nam, lan rộng ra mười mấy tỉnh Trung Kỳ. Thực dân Pháp và Nam triều cho rằng sở dĩ có Vụ xin xâu là do hoạt động của những người Duy Tân mấy năm trước đó thức tỉnh ý thức Dân quyền của dân chúng, nên vây bắt bằng hết. Phan Khôi bị giải về Quảng Nam, kết án ba năm tù, giam tại nhà lao Hội An; còn bị tước khử cái bằng Tú tài, bị cấm đi thi vĩnh viễn. Trong tù khổ như rứa mà Phan Khôi vẫn kiếm được các cuốn sách tiếng Pháp, rồi tra từ điển, để học. Ông còn học thêm ở các bạn tù giỏi tiếng Pháp hơn mình. Một bữa, Trần Văn Thống là Tổng đốc Quảng Nam bất ngờ vào khám ngục, thấy Phan Khôi đang mày mò học tiếng Pháp với mấy cuốn từ điển, liền bắt lính lục soát, tịch thu tất cả sách vở. Viên Tổng đốc lại còn quát tù nhân Phan Khôi: “Học để làm gì? Ai cho thi cử nữa, mà học?”. Nhưng làm sao cấm được, Phan Khôi vẫn lén lút học theo cách của mình. Năm 1911 hết hạn tù thì Phan Khôi đã hai mươi ba tuổi, thế mà anh vẫn vừa hoạt động bí mật trong Phong trào Đông Du ở miền Trung của Nguyễn Hàm, Thái Phiên, vừa ra Huế xin vào học trường Dòng Pellerin toàn là các học trò chín, mười tuổi. Bị các bạn nhỏ trong trường trêu chọc, anh cũng chỉ cười xòa cho qua. Hai tháng đầu anh đứng bét, nhưng từ tháng thứ ba trở đi anh vượt lên đứng nhì rồi đứng nhất lớp, bọn trò nhỏ chỉ còn biết bái phục. Rồi từ đó trở đi Phan Khôi tự học tiếng Pháp hàng ngày, hàng giờ qua các cuốn từ điển to, nhỏ khác nhau, qua công việc viết báo, như cơm ăn nước uống mỗi ngày không thể thiếu vậy.

Quả là cái công tự học tiếng Pháp và trau dồi cho thật giỏi tiếng Việt của Phan Khôi đã không phụ ông, vì đến năm 1921, tại Hà Nội, ông nhận lời cùng ông bà Mục sư W.C.Cadman và một số người nữa, dịch bộ Kinh Thánh – một kho tàng văn hóa vô giá của nhân loại – từ tiếng Pháp và tiếng Hán sang tiếng Việt. Công việc dịch thuật mất 5 năm, đến năm 1925 thì xong. Bản dịch Kinh Thánh Việt ngữ in tại Hà Nội năm 1925 và Thượng Hải năm 1926, khổ 13×20 cm dày 1397 trang: Cựu ước 1070 trang, Tân ước 327 trang. Phan Khôi dịch trọn phần Tân ước và một phần ba Cựu ước. Phan Khôi dịch Kinh Thánh không phải vì tín ngưỡng, bởi về sự tín ngưỡng, ai nấy đều có quyền tự do. Ông đã từng tuyên bố: “Tôi dụng công trọn 5 năm dịch Kinh Thánh, cố nhiên để kiếm được nhiều tiền, mà cũng để xây dựng một lối văn Việt Nam thuần túy hơn và xứng đáng hơn”. Bản dịch đó ngày nay vẫn được sử dụng và lưu hành rộng rãi trong cộng đồng những người theo đạo Cơ Đốc, đạo Tin Lành. Chi tiết sau đây mới càng thú vị: ông bà mục sư W.C.Cadman là người lo việc đạo ở Hà Nội lúc bấy giờ, biết rất nhiều ngoại ngữ, ông thạo mấy thứ tiếng và giỏi tiếng Quảng Đông, còn bà thì sử dụng thành thạo đến 13 ngoại ngữ! Những chuyên gia người nước ngoài về đạo Tin Lành và về ngoại ngữ đến cỡ đó mà chọn Phan Khôi và các đồng nghiệp của ông để hợp tác trong một công việc đầy khó khăn và mới mẻ ở nước ta hồi đó, thì đủ biết họ đánh giá cao trình độ tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Việt của các ông đến mức nào!

Đó mới là dịch xuôi, đã khó, nhưng chưa phải là khó nhất, và Phan Khôi chưa muốn dừng lại ở đó. Ông còn muốn trực tiếp viết báo bằng tiếng Pháp, còn khó hơn. Các năm 1926 và 1927, sau cái chết của cụ Phan Châu Trinh ở Sài Gòn, Phan Khôi gặp phải một số rắc rối về chính trị, nhân đó ông lánh xuống Cà Mau một thời gian. Tại đây, ngày rộng tháng dài, ông càng đẩy mạnh việc tự học tiếng Pháp bằng cách tập viết những bài báo ngắn bằng tiếng Pháp, rồi gửi về Sài Gòn nhờ nhà báo Nguyễn Pho và nhà báo người Pháp De jean de la Bâtie xem xét, chỉ bảo thêm. Ít lâu sau, ông được nhà báo người Pháp này khen là có tiến bộ, cứ tiếp tục thì sẽ viết dược những bài báo ngắn bằng tiếng Pháp.

Cũng cần nói thêm rằng: vốn tiếng Pháp tự học của ông, cùng với vốn chữ Hán học ở trường của thầy Trần, đã trợ lực cho ông rất nhiều trong công việc nghiên cứu tiếng Việt, trong cả công việc dịch thuật nhiều áng văn xuất sắc của Lỗ Tấn (Trung Quốc), của M.Goocki (Nga) và một số nhà văn ngoại quốc khác ra tiếng Việt, phục vụ công cuộc giành độc lập dân tộc ở thế kỷ trước.

Một điều rất nên kể lại ở đây, là chính nhờ tự học, mà Phan Khôi đã hiểu và nắm rất chắc một phần rất quan trọng của tinh thần Tây học, đó là Luận lý học, nay gọi là Logic học. Phan Khôi không phải là người Việt Nam đầu tiên học và nắm vững logic học, nhưng là người tiên phong trong việc áp dụng khoa học logic trong nghệ thuật viết văn tiếng Việt. Nhờ áp dụng logic học, lối viết của ông thay đổi hẳn. Nhiều bài ông viết trên Nam phong tạp chí ở Hà Nội hồi năm 1918 được độc giả để ý, thì sau này, nhờ ánh sáng của logic học, ông đều cho là còn rườm rà, khác với lối văn của ông sau này rành mạch, sát sóng. Là một nhà báo luôn quan tâm tới văn chương nước nhà, trên thực tế ông đã có ảnh hưởng không nhỏ đến cách hành văn của văn phong báo chí; nói cách khác, ông đã góp phần không nhỏ xây dựng một lối viết văn tiếng Việt trong sáng, rạch ròi, dễ hiểu và sát nghĩa; một lối văn bình dân, đại chúng. Ông không chấp nhận lối viết văn cốt ở sự hào nhoáng, cố tìm sự cân đối hoặc cố tình đối lời, đối ý theo lối cổ do ảnh hưởng của Hán văn.

Phan Khôi nói: Tôi bao giờ cũng không bỏ sự tự học… Ngoài hai mươi năm viết báo, tôi khi nào cũng cố làm tròn trách nhiệm của mình là nhà văn và làm tròn trách nhiệm đối với độc giả, là viết cái gì có ích cho tri thức và quyền lợi của người đọc mình. Quả có thế thật! Sự tự học suốt đời, học từ cái nhỏ nhất trong thực tế cuộc sống, còn giúp cho Phan Khôi có tầm kiến văn rộng và sâu, giúp ông hoàn thành những chuyên luận nghiên cứu có tính phát kiến khoa học quý giá, như chuyên luận Thử tìm sử liệu trong ngữ ngôn ông viết năm 1954 trên Việt Bắc, lúc đã 67 tuổi; hay Những con số không nhất định trong từ ngữ, ông viết tại Hà Nội lúc đã 70 tuổi, ốm yếu, bệnh tật và mọi thứ quyền lợi đã rời bỏ ông.

Sau nửa thế kỷ tên tuổi và sự nghiệp của ông bị chôn vùi sau vụ Nhân Văn – Giai phẩm hồi 1956 – 1958, người đương thời buộc phải nhìn nhận lại cách đúng đắn con người và sự nghiệp của ông với những đóng góp xứng đáng cho nền văn hóa dân tộc. Trong trào lưu đó, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, người đã dày công tái công bố tất cả các tác phẩm báo chí của ông, đã tổng kết: Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung Quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học ở cả phần lý thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.

Xin phụ chú thêm là: Tất cả những thành tựu đó của Phan Khôi, đều do sự tự học mà có!

                                                                           P.A.S.