Nhân giỗ đầu nhà thơ Trần Vàng Sao (1941-2018): Ngước nhìn “đất nước” của Trần Vàng Sao

Trần Vàng Sao, là tác giả của Bài thơ của một người yêu nước mình (1966), là thế giới hình tượng nghệ thuật như là thi trình/ thi mệnh gắn liền với vận mệnh của đất nước và số phận của nhân dân. Với một quan niệm nghệ thuật thấm đẫm những ưu tư của đời sống và tư duy nghệ thuật dường như lúc nào cũng “trục trặc” như chính cuộc sống của người sinh ra nó, đã tạo cho thế giới nghệ thuật của ông, những đặc điểm riêng.

Có khá nhiều thơ viết về đất nước và phải thừa nhận là có nhiều bài hay, trong đó có những bài đã trở nên cổ điển, khá phổ biến như Đất nước của Nguyễn Đình Thi hoặc chương Đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng Trần Vàng Sao có một đất nước của riêng mình. Hình tượng đất nước trong thơ Trần Vàng Sao không thấm đẫm chất sử thi như “Đất nước của những người không bao giờ chịu khuất/ Đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về” (Nguyễn Đình Thi) và cũng không quyện chặt chất văn hóa dân gian và lịch sử như “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn (…) Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm (…) Đất là nơi Chim về/ Nước là nơi Rồng ở” (Nguyễn Khoa Điềm), mà đất nước trong cái ngước nhìn của Trần Vàng Sao là những gì gần gũi, cụ thể diễn ra hằng ngày trong đời sống, là gió sớm mai, nắng trưa gay gắt, là mưa chiều nặng hạt, là tiếng chim kêu, tiếng chó sủa, tiếng la mắng con của người hàng xóm, là nỗi nhọc nhằn của mẹ của cha, là “tôi yêu mẹ tôi áo rách/ Chẳng khi nào nhớ tuổi mình bao nhiêu (…) mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng/ Thương tôi nên ở góa nuôi tôi”. Thật khó tìm thấy những triết lý cao siêu, những tri thức văn hóa, lịch sử đôi khi làm ta không nhớ hết, mà thơ anh là hơi thở thân thương của cuộc sống những người lao khổ, chưa đủ cơm no áo ấm, của những “căn nhà dột phên không ngăn nổi gió/ vẫn yêu nhau trong từng hơi thở/ lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài”. Tôi không biết trong các giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam họ dạy những gì, nhưng tôi nghĩ văn hóa Việt không cao siêu trừu tượng, mà hết sức gần gũi, cụ thể, đó chính là văn hóa đời sống thể hiện trong quan hệ hằng ngày, thực chất là văn hóa ứng xử. Và, vì vậy, có thể nói, thơ Trần Vàng Sao đầy ắp những vỉa tầng văn hóa Việt/ văn hóa nhân bản và chính vì được hấp thụ những giá trị văn hóa trầm tích lâu đời ấy, mà ta ngẩng cao đầu để sống nên người:

               tôi yêu đất nước này như thế

        như yêu cây cỏ trong vườn

        như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương

        nuôi tôi thành người hôm nay

Chỉ trong một bài thơ, ông nhắc đi nhắc lại hơn mười lần cái mệnh đề “tôi yêu đất nước này…” như một điệp khúc, trước khi gọi tên đất nước xót xa, cay đắng, áo rách, rau cháo, lầm than, khôn nguôi… nhưng vẫn bắt nguồn từ căn nhà của mẹ, tấm áo vá của cha, từ vóc dáng người em kẹp tóc thuở học trò, và nhờ những khung cảnh thân thương ấy nuôi lớn thành người:

               tôi yêu đất nước này chân thật

        như yêu căn nhà nhỏ có mẹ tôi

        như yêu em nụ hôn ngọt trên môi

        và yêu tôi đã biết làm người

                 (Bài thơ của một người yêu nước mình)

Thực chất, từ trong cội nguồn lịch sử văn hóa dân tộc, đã hình thành nên đẳng thức: nước là của dân, dân là của nước. Nên đất nước là của nhân dân và nhân dân trong thơ ông là những người cần lao cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm, những mẹ già, những em bé, người thợ thổi chai, thằng hề, người kéo màn… Chỉ qua những tiêu đề của các bài thơ cũng có thể nhận ra đối tượng trữ tình mà thơ ông hướng đến là những con người thuộc tầng lớp dưới, những con người nghèo khổ, bé mọn như đứa bé thả diều trên cánh đồng và vắt cơm cúng mả mới, lời khai của một người hề, người đàn ông mất trí và con chó chưa mở mắt, bản thánh ca của một tên hề mất trí là thi sĩ hay là sự tích tôi làm hề, trong cơn sốt đưa chị Miên về Đông Xuyên….(tiêu đề thơ ông không viết hoa). Nhân dân của ông còn có những người đã khuất bởi chiến tranh, là bộ phận chi phối như một nỗi ám ảnh nặng nề trong tâm tưởng cả đời ông, đến khi đã vào tuổi ngoài bảy mươi, ông dành hẳn một bài thơ dài có vóc dáng một trường ca thảng thốt kêu lên như một nhà ngoại cảm Gọi tìm xác đồng đội (Nxb Hội Nhà văn 2012). Không phải bây giờ ông mới quan tâm đến “loại” nhân dân này, mà đã từng lướt qua “thập loại chúng sanh” trong bài văn bia, hoặc đã từng dựng tượng đài “Tổ quốc ghi công” trong bài đồng chí/ trong tâm tưởng ông với niềm hạnh nguyện lặp đi lặp lại như một điệp khúc “mi chết thật rồi sao”, một câu hỏi không có lời đáp lại, như hỏi trời hỏi đất, hỏi quá khứ, hỏi tương lai, hỏi tai ương chiến tranh hay hỏi chính tâm can mình thành một lời khẳng định: “Mi đã chết thật rồi/ như Nguyễn Thiết Lê Minh Trường Phạm Bá Thuận Chế Công Việt Trần Văn Nam Nguyễn Thị Nga…”. Câu thơ liệt kê tên các liệt sĩ dài đến hụt hơi, nhưng vẫn chưa đủ tên tuổi những đồng đội đã hy sinh, ông phải dành hơn ba mươi trang sách khổ lớn (21×29,7cm) để Gọi tìm xác đồng đội. Đọc thơ ông, càng suy ngẫm, càng thấm thía và quý trọng cái giá trị của cuộc sống độc lập, tự do hiện nay mà chúng ta đang có.

Một quan niệm nghệ thuật đòi hỏi phải thể hiện bằng một thi pháp tương ứng. Thơ Trần Vàng Sao thể hiện một quan niệm về đất nước và nhân dân đã đi qua một cuộc chiến tranh với tất cả sự dữ dội, tàn khốc, trần trụi đến mức tàn nhẫn với bao nhiêu người đã chôn vùi sự sống và tuổi thanh xuân của mình trong đó, nhưng không phải để bi quan, hư vô đến vô nghĩa mà luôn có cái nhìn ấm áp ở tương lai. Đặc điểm nổi bật trong cấu trúc thơ ông là vào cuối bài thường dùng những câu đồng cảm “vật ngã tương giao” với thiên nhiên, với thời tiết để soi rọi niềm tin vào sức sống của con người. Khi thì ông tiên đoán “đến chiều trời sẽ mưa dông rất mát” (Tôi được ăn thịt), khi thì buồn lòng “trời vẫn không mưa cho được mát” (Khoảng trống ngoài sân khấu), hoặc “trời mưa hoài không tạnh” (Sự tích hòn bi của tôi). Đặc điểm này lặp đi lặp lại ở nhiều bài thơ của ông (Nhớ Ức Trai, Đưa vợ đi đẻ, Buổi trưa giữa đường tôi núp mưa, Lục bátLúc đó, Những lúc đó, Những lúc đó có khi như thế, Đêm). Ngay cả bài Hai mươi mốt muôn năm, in cuối bài thơ dài Gọi tìm xác đồng đội như một lời vĩ thanh, cuối bài ông cũng tả: Đêm mưa không hết/ có tiếng chẻ củi ở nhà bên cạnh”, hoặc ngay trong bài Gọi tìm xác đồng đội, bên cạnh những dòng tin nhắn, những cái chết không toàn thây, không tìm thấy xác, ông vẫn dừng lại với bức tranh lãng mạn về những buổi sớm mai:

               những buổi sớm mai

        những buổi sớm mai thơm mùi lúa

        tôi đi qua những cánh đồng đất mới cuốc lật

        hai bên đường bông cỏ vừa nở

        chim hót trong gió mát

        và sương cũng mờ trong cây bên kia đường

        em làm gì mà ngơ ngác như không thấy tôi

        những buổi sớm mai

        như thơ tôi

        sớm mai

         mặt trời mọc

        như thơ tôi ở với trời đất ở với anh em bạn bè tôi người sống người chết

                 thơ tôi là đời tôi là tôi đây.

Tuổi Tân Tỵ (1941) của ông nhiều người thành đạt, có đến gần ba mươi tác giả cùng tuổi với ông hanh thông trong cuộc đời và sự nghiệp. Riêng ông, cả cuộc đời và thơ dường như không mấy suôn sẻ. Nó như câu thơ của ông lúc nào cũng “trục trặc”, không vần không điệu, không trau chuốt về câu chữ, câu dài câu ngắn (có câu chỉ một từ, có câu dài đến mấy chục từ, đọc muốn hụt hơi). Giọng điệu thơ ông như được truyền trực tiếp từ đời sống. Ông viết giản đơn như nói. Nhưng điều quan trọng hơn, trong màu xanh của cây lá, của sự sống, ông không chỉ nhìn thấy màu sắc, hình vóc mà còn nhận ra được cả những đường gân lá, để hình dung ra diện mạo một đất nước của riêng mình, đất nước của những người lao khổ/ những người ngã xuống trong chiến tranh.

Tôi yêu quý con người và thơ ca của ông, nên tự dặn lòng phải thắp một nén nhang nhân một năm ông từ giã cõi đời. Trong cuộc hành thân đi qua cuộc đời, mỗi người có một lối sống, có một giọng nói, cũng như mỗi thi sĩ có một giọng điệu thơ ca, tôi biết, cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, ông vẫn nhất quán như bản chất thi sĩ của mình mà ông từng tự hào và tự hứa: “Bây giờ cho tới cuối đời/ thì tôi vẫn cứ như tôi thế này” (Lục bát). Cuộc sống bao giờ cũng đầy rẫy những nhũng nhiễu, eo sèo, nên tôi biết cũng có khi ông nản lòng, nhụt chí, thậm chí hằn học, bực bỏ. Công chúng rất tinh tường. Họ luôn đứng về phía ông. Cũng chính vì họ mà lâu nay ông cầm bút.

P.P.P