Nhà thờ tộc Trương Đôn Hậu ở Hội An

Một trong những nhà thờ tộc vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến nay tại đô thị cổ Hội An là nhà thờ tộc Trương với tên thường gọi Trương Đôn Hậu đường.

Gian chánh điện nhà thờ tộc Trương Đôn Hậu.

Giữa thế kỷ XVIII, thủy tổ họ Trương là ngài Trương Mậu Viễn, hiệu Tương Lợi (1718- 1763) từ huyện Chiếu An, Phủ Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc đến định cư tại Hội An. Ngài kết hôn với một phụ nữ Việt, đến đời thứ hai gia tộc này đã nhập Việt tịch. Người xây dựng nên ngôi từ đường này là tổ đời thứ ba của gia tộc, ngài Hương Đình Trương Chí Cẩn (? – 1859). Năm 1834, ngài được triều đình bổ dụng làm Binh Bộ Chủ Sự, hàm lục phẩm. Hiện nay tại Trừng Hán Cung (chùa Ông, Hội An) ngay giữa chính điện có treo một tấm hoành phi lớn với bốn đại tự “Linh Quang Bất Mẫn” có ghi rõ những thông tin về ngài.

Bên trong tự đường ngày nay vẫn còn một cây xo cò dài, sơn son thếp vàng nằm dưới đòn đông, chạm nổi ghi rõ thời gian khởi công xây dựng “Minh Mạng vạn vạn niên chi nhị thập nhất tuế thứ Canh Tý, thập nhất nguyệt Mậu Tý, sơ ngũ nhật Tân Mẹo, Tân Mẹo thời, cung tạo”. Tạm dịch là khởi công vào lúc năm giờ sáng, ngày năm, tháng mười một, năm Canh Tý, năm Minh Mạng thứ hai mươi mốt (1840). Về sau, bên hông phải của cây xo cò này cũng có chạm chìm một dòng chữ ghi rõ thời gian di dời ngôi từ đường này về địa điểm hiện nay. Những chi tiết này vô cùng hữu ích cho công việc tầm nguyên của giới học giả sau này.

Năm 1898, theo chỉ dụ của vua Thành Thái quy hoạch đất đai để mở mang Hội An về hướng Bắc, người Pháp quy hoạch đô thị mở rộng đường sá làm một con lộ chính chạy vắt ngang qua khuôn viên của tự đường (đường Phan Châu Trinh hiện nay). Năm 1906, vị tổ đời thứ tư là ngài Thuấn Phu Trương Đồng Hiệp (1857- 1926), cử nhân khoa Giáp Ngọ, Huấn Đạo tỉnh Quảng Nam, Hàn Lâm Viện Thị Giảng, hàm tòng ngũ phẩm, lúc này đã cáo quan về hưu, mở trường dạy học tại từ đường. Nhà nghèo thanh bạch nhưng vì sự phát triển chung của cộng đồng, ngài vẫn quyết tâm di chuyển ngôi tự đường về mảnh đất hiện nay theo đúng hình dáng nguyên thủy.

Trương Đôn Hậu đường hiện nay tọa lạc tại số 69/1 Phan Châu Trinh, thành phố Hội An. Cổng chính quay về hướng Tây, cửa làm bằng gỗ dày được che mưa nắng bằng lớp tường xây có mái. Như thường thấy ở các ngôi nhà cổ tại Hội An, dưới tấm biển ghi tộc hiệu, phía trên đầu cửa có hai mắt cửa lớn chạm âm dương đồ hình cách điệu, sơn son thếp vàng và hai vuông vải điều rũ xuống phía dưới. Bước qua một khoảng sân rộng lát đá và gạch thẻ là đến nhà chánh điện. Chánh điện gồm ba gian quay về hướng Tây. Trên mái ngói âm dương được trang trí những bông hoa mai tượng trưng cho khí tiết của người quân tử, diềm mái được che bằng những dĩa sứ tạo nên sự nền nếp, sang trọng. Cửa ghép làm bằng tre ngâm, vót cộng chữ nhật, đan xéo trong các khung bằng gỗ. Bên trong được chia làm hai lớp, trên các cột nhà treo kín những câu đối và hoành phi, sơn son hoặc sơn mài thiếp vàng. Phía dưới các trính kèo được chạm trổ công phu các hình ảnh hoa dây giả long, bát bửu… là cặp đèn lồng tròn bằng tre, đan kiểu mắt cáo, bồi giấy bản. Trên đèn trang trí hoa dây cách điệu và hai đại tự “Trương Phủ” chiếm gần hết chiều cao mặt đèn. Tiếp đến là bốn chiếc đèn Lục Long Bát Tiên khung chạm đầu rồng bằng gỗ, sáu mặt kiếng vẽ tích Bát Tiên Quá Hải. Nội thất phòng ngoài được bày biện trang nhã. Di ảnh vẽ truyền thần của các vị tổ đời thứ tư và đời thứ năm được treo trang nghiêm trên các tấm phỉnh lụa, hai bên là các đôi câu đối. Đôi câu đối phía bên tả tiền sảnh gồm mười tám chữ viết bằng mực nho trên lụa được treo hai bên di ảnh của ngài Thuấn Phu Trương Đồng Hiệp:“Mậu thừa chí đồng hoài đình duy bách thế/ Hiếu hữu truyền hậu tự phái diễn vạn niên”.

Theo tộc quy, mỗi thế hệ sẽ dùng một chữ trên câu đối này để làm tên lót, kế tiếp nhau đến hết mười tám đời. Cách đặt tên lót này giúp cho các thành viên trong gia tộc có thể xác định ngay mình thuộc đời thứ mấy kể từ thủy tổ khai cơ, đồng thời có thể ứng xử với nhau theo đúng vai vế và tôn ti trật tự trong gia tộc. Ngăn cách giữa phòng ngoài và gian thờ tự là tám cánh cửa gỗ lớn nặng hơn nửa tạ. Các cánh cửa được trang trí bằng những đồ hình chạm khắc tinh xảo từ gỗ nguyên khối, mang các nội dung xuân, hạ, thu, đông, như: Tam Dương Khai Thái, Ngũ Phúc Lâm Môn, Thái Bình Hữu Tượng, Thùy Dũ Hậu Xương, theo bốn thể loại chữ chân, triện, lệ, thảo, và các mô thức cách điệu như kim tiền, âm dương, cổ tự… cầu chúc an khang, thịnh vượng, phúc thọ. Phần trong là nơi thờ phụng tổ tiên và các tộc nhân đã quá vãng. Các loại hoành phi và câu đối cũng được bố trí như phòng ngoài nhưng uy nghi và trang nghiêm hơn. Không gian thờ tự cũng chia thành ba gian, gian giữa đặt một khám thờ lớn chạm trổ tinh vi, bài trí linh vị của vị tổ khai cơ đời thứ nhất và các vị tổ đời thứ hai, thứ ba. Bên tả thờ di ảnh các vị tộc nhân đời thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Bên hữu thờ di ảnh các vị tộc nhân của các đời kế tiếp.

Bằng chứng nhận Giải thưởng Công Trạng (Award of Merit) của dự án Bảo tàng các ngôi nhà dân gian truyền thống Việt

Tại nhà chánh điện hiện nay vẫn còn lưu giữ các hiện vật kỷ niệm của triều đình nhà Nguyễn ban cho các tộc nhân gồm hai chiếc cáng khiêng võng bằng gỗ chạm nổi đầu lân ở hai đầu cáng, sơn son thếp vàng, dùng để cáng võng hai vị tổ làm quan cho triều đình là ngài Hương Đình Trương Chí Cẩn và ngài Thuấn Phu Trương Đồng Hiệp. Ngoài ra, còn một tấm hoành phi chạm rồng đề bốn chữ lớn “Tiết hạnh danh văn” do hoàng đế Bảo Đại ban cho một nữ tộc nhân đời thứ năm là bà Trương Hoài Kính phu nhân, nhũ danh Đặng Thị Vịnh. Nguyên ngài Trương Hoài Kính mất sớm khi còn trẻ, bà thủ tiết ở vậy thờ chồng nuôi con nên được hoàng đế vinh danh. Bên tả chánh điện là nhà hương, quay về hướng Tây. Ngôi nhà này trước đây là nơi sản xuất những mặt hàng thủ công của gia tộc. Bên hữu chánh điện là nhà ngang và bếp, quay về hướng Nam. Cấu tạo và bài trí hoành phi và câu đối của nhà ngang cũng tương tự như nhà chánh điện. Nhà cũng chia ra làm hai phần, lớp cửa phía ngoài cùng được làm bằng tre đan. Lớp cửa phía trong làm bằng gỗ kích thước cũng như ở chánh điện tuy nhiên lại không chạm trổ. Gian trong bài trí một khám bằng gỗ, treo cách mặt đất hơn hai mét để làm nơi thờ phượng Quan Thánh Đế Quân. Đến ngày nay vẫn còn ảnh thờ Quan Vân Trường, Quan Bình và Châu Xương.

Từ khởi thủy đến nay nhà thờ tộc Trương Đôn Hậu đã trùng tu 5 lần vào các năm: 1906, 1950, 1992, 1994, 2001. Năm 2001, nhà thờ này được trùng tu nhờ sự hỗ trợ của chính quyền Hội An, cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Trường đại học nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản và sự đóng góp của gia tộc. Năm 2004, nhà thờ tộc Trương Đôn Hậu là một trong sáu ngôi nhà cổ đại diện cho hơn bốn ngàn ngôi nhà cổ tại Việt Nam được vinh dự đón nhận Giải thưởng Công Trạng (Award of Merit) của dự án “Bảo tàng các ngôi nhà dân gian truyền thống Việt Nam” do UNESCO trao tặng. Đến nay, con cháu tộc Trương Đôn Hậu các đời về sau vẫn giữ được xuân thu tế tự và cúng tế các lễ, tiết hàng năm không kém phần nghiêm cẩn, trang trọng như ngày xưa. Âu đây cũng là cách hướng vọng về cội nguồn, ghi nhớ công đức tổ tiên đã dày công xây dựng và truyền lại cho hậu thế mãi đến muôn đời sau vậy.

                                                                        T.N.N

Tài liệu tham khảo:

– “Gia phả tộc Trương Đôn Hậu”. Phi Anh Trương Đình Hoanh chấp bút. Bản tiếng Việt. Hiện được lưu giữ tại nhà thờ tộc Trương Đôn Hậu.

– “Tộc Trương Đôn Hậu làng Minh Hương, Hội An, Việt Nam”. Tác giả Trương Duy Trí. Bản tiếng Việt. Tham luận trình bày tại hội thảo quốc tế về “Lịch Sử và Văn Hóa Hội An” tổ chức tại Nhật Bản 12.2007.