Nhà soạn Tuồng Nguyễn Diêu và thông điệp cảnh báo con người

Nhà soạn Tuồng Nguyễn Diêu (1822- 1880(?) hiệu là Quỳnh Phủ. Ông sinh ở thôn Nhân Ân, xã Phước Thuận (Tuy Phước, Bình Định), về sau gia đình chuyển về sống tại thôn Kỳ Sơn, xã Phước Sơn. Nguyễn Diêu đỗ tú tài năm 1860 và ngày giỗ ông nhằm vào ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch hàng năm. Nguyễn Diêu là thầy dạy chữ và truyền nghề viết Tuồng nên Đào Tấn tôn ông là nghiệp sư của mình. Ông đã có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền nghệ thuật Tuồng nước nhà. Năm 2012,

Lễ dâng hương tưởng niệm Nguyễn Diêu nhân kỷ niệm 139 năm ngày ông mất (762019) do UBND huyện Tuy Phước tổ chức tại Nhà từ đường họ Nguyễn, thôn Kỳ Sơn, Phước Sơn.

hội thảo khoa học về Nguyễn Diêu tại Quy Nhơn thu hút gần 100 giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu và văn nghệ sĩ trong, ngoài nước. Sau đó, phần mộ của ông hiện nay tại thôn Kỳ Sơn, Phước Sơn đã được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2017.

Ông đồ nghệ sĩ

Khi bàn đến ông, các nhà nghiên cứu hay đề cập đến một giai thoại buồn. Chuyện kể rằng nhà ông Tú vốn nghèo, thuở nhỏ đi học trường tỉnh, trọ nhà một phú ông. Cô gái con chủ nhà phải lòng anh học trò nghèo nên thường lấy gạo bỏ vào hũ gạo của anh hay giặt giũ quần áo cho anh. Khi đỗ tú tài, phú ông gọi anh tới nói ý định gả con gái. Anh về thưa chuyện với mẹ mình nhưng mẹ anh không đồng ý vì không hợp tuổi và cưới cho anh một cô gái khác hợp với tuổi anh. Vì chữ hiếu, anh phải vâng lời mẹ. Cô gái con phú ông biết chuyện sinh đau buồn, tương tư mà chết. Cái chết của người yêu làm anh tú ân hận vô cùng, tự trách mình gây ra cái chết cho người yêu. Ám ảnh vì chuyện này mà anh thi mãi mà không đậu được cử nhân. Từ đó anh chán khoa danh, mở trường dạy học, soạn Tuồng, mở đàn cầu tiên để chuyện vãn với người yêu. Tuy câu chuyện chưa được xác định thực hư nhưng câu chuyện lưu truyền trong dân gian đã tôn vinh nhân cách cũng như tình yêu đích thực, chung thủy của ông và góp phần lý giải nguyên nhân Nguyễn Diêu không thành đạt trong khoa cử.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, nhờ hiếu học, ý chí vượt khó, Quỳnh phủ Nguyễn Diêu sớm trở thành một danh sĩ nổi tiếng học rộng, biết nhiều. Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu đỗ tú tài khoa Canh Thân năm Tự Đức thứ 13 (1860), nên người đời thường gọi ông một cách thân mật là Ông Tú Nhơn Ân.

Là một trí thức Nho học, trong giai đoạn thực dân Pháp đang dần củng cố ách đô hộ trên đất nước ta, chứng kiến sự đê hèn của phần lớn vua quan nhà Nguyễn, Quỳnh phủ Nguyễn Diêu đã nhận thức được thế cuộc như trong bài Hàn sĩ vịnh ông viết:

Liếc mắt thấy thế tình đà điên đảo

Lắng tai nghe thời sự quá dở dang

Trước một thế cuộc như thế, theo ông, nghiệp chữ nghĩa, chí hướng giúp đời của nhà Nho không có ý nghĩa gì. Tâm trạng này thể hiện trong bài thơ Chán đời của ông:

Văn hay chẳng khỏi nề xanh cỏ

Võ giỏi rồi ra cũng bạc đầu

Có lẽ chính vì trước cảnh nhiễu nhương của thời cuộc, là một nhà Nho, Nguyễn Diêu cố gắng tìm cách tốt nhất để giữ vững danh tiết bằng con đường ở ẩn và dạy học. Suốt cuộc đời mình ông mong sống một cuộc sống thanh bần lạc đạo, không màng đến công danh, phú quý:

“Áo cơm xong phận theo ngày tháng

Ruột đặng như vầy rứa cũng tiên

(Bài thơ An phận)

“Vui là vui với bá tòng là bầu bạn, đói no kinh sử cũng thỏa lòng.

Đường lợi danh trối kẻ ước mong, trường đạo lý thời ta nông nã”.

(Bài phú Hàn sĩ vịnh)

Với thế sự, Quỳnh phủ đã tỏ rõ thái độ căm phẫn của mình đối với bọn quan lại ô trọc:

“Loài muỗi bay ôi sướng đủ điều.

Thiếu chi chi nữa vậy còn kêu.

Lầu son gác tía ngày nhơ nhởn,

Má phấn môi son bữa ấp iu.

Băng tiêu quạt nọ trời cho mỗ

Ra sức đập mầy cũng chết queo”

(Bài Con muỗi)

Theo nhà thơ Quách Tấn(1), học trò của Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu rất đông vì ảnh hưởng của ông trên văn đàn, trong giáo giới thời bấy giờ rất lớn và ông là một trong bốn người hay chữ nổi tiếng ở Bình Định thời bấy giờ. Ông cũng là người có công dạy học, dạy Tuồng cho Đào Tấn và Đào Tấn tôn vinh ông là nghiệp sư của mình.

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn(2) có nhận xét: Nguyễn Diêu gần như trọn đời sống thanh bần ở quê, giữa thế sự điên đảo; lấy việc dạy học trò làm niềm vui và lẽ sống; lấy bà con hàng xóm làm nguồn an ủi; lấy tao nhân mặc khách trong vùng làm bầu bạn; lấy văn chương làm phép lạ và phần nào giải tỏa mặc cảm tội lỗi trong tâm hồn. Đề tài văn chương của cụ Nguyễn chủ yếu xoay quanh đạo làm người, chữa chạy bệnh thái đời người nên thấm đẫm chất văn chương của một nhà giáo dục. Do vậy, Vũ Ngọc Liễn trân trọng gọi ông là Ông đồ nghệ sĩ

Thông điệp cảnh báo con người.

Các nhà nghiên cứu đến thời điểm hiện nay cho rằng Nguyễn Diêu là tác giả của ba vở tuồng nổi tiếng là Ngũ hổ bình Liêu, Liễu đố (Chữa bệnh ghen) và Nguyệt Cô hóa cáo (hay Tiết Giao đoạn ngọc).

Vở Tuồng Nguyệt cô hóa cáo có một giá trị rất đặc biệt vì chủ đề mà nó đề cập đến. Truyện kể rằng, có một con hồ tinh (tức cáo) nhờ Tây Vương Mẫu mà tu luyện thành Nguyệt Cô trong bụng có viên ngọc “tính người”. Nàng được báo trước là sẽ phải lấy một vị tướng mặt đỏ. Nàng xuống núi và gặp ngay vị tướng mặt đỏ Võ Tam Tư và lấy chàng làm chồng, giúp chàng đánh thắng Tiết Giao. Khi gặp Tiết Giao, nàng nhận ra ông này mặt cũng đỏ mà lại trẻ trung, tài năng và đẹp trai hơn chồng mình, cũng là người tiền định của mình. Nàng liền mê Tiết Giao và hai người có quan hệ yêu đương. Gã này vì muốn thắng Nguyệt Cô trên chiến trường đã lợi dụng tình cảm của nàng, giả vờ đau bụng, bảo Nguyệt Cô nhả ngọc ra chữa bệnh cho mình rồi không trả lại ngọc bất chấp sự van xin của nàng. Mất ngọc, tức mất tính người, nàng mọc lông và hóa trở lại thành cáo, một thứ thú vật sống bằng bản năng. Vở Tuồng cảnh báo con người đừng bao giờ vì dục vọng bản năng mà làm mất tính người và đừng để người khác lợi dụng dục vọng, đam mê của mình để trục lợi. Đây là chủ đề mang tầm cỡ nhân loại  và có nhà nghiên cứu cho rằng vở tuồng này không những là kiệt tác sâu khấu Việt Nam mà còn của cả thế giới. Theo giáo sư Nguyễn Chương(3), vì giá trị nhân văn sâu sắc mà vở tuồng được đánh giá là một trong những vở tuồng lớn nhất trong lịch sử nghệ thuật Tuồng, sánh ngang với những kiệt tác Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Cổ thành, Diễn võ đình, Hộ sanh đàn, Trầm hương các… đã tồn tại trên sân khấu hàng trăm năm qua và đã trở thành những hình tượng khó quên trong hàng triệu người xem nhiều thế hệ.

Cũng bàn về vở tuồng này, trong bài viết Triết lý một vở tuồng cổ(4), nhà văn hóa nổi tiếng Hữu Ngọc kể lại một cuộc trao đổi giữa ông và tác giả sân khấu Trần Vượng. Cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề là trong hàng trăm vở Tuồng cổ, người nước ngoài muốn tìm hiểu sân khấu truyền thống của nước ta thì nên chọn xem vở nào. Theo Trần Vượng, vở nên xem là Nguyệt Cô hóa cáo vì nội dung vở tuồng này khác lạ so với nội dung đơn điệu ca ngợi chữ Trung tuyệt đối với vua. Vở tuồng cho người xem chứng nghiệm rằng: “Nhân tính” qua rèn luyện tăng dần theo tỷ lệ ngược với “thú tính” bớt dần đi. Nhưng  nếu “tu luyện kém”, để dục vọng và bản năng lấn át, con người có thể trở lại thành con thú, cái ác sẽ thắng cái thiện. Vở tuồng chứa đựng trong nó triết triết lý về con người muôn thuở, một vấn đề luôn mang tính hiện đại. Ngoài ra, chúng ta có thể thấy từ vở Tuồng này, nhân cách của nhân vật không cố định như thường thấy trong tuồng truyền thống, nó biến đổi biện chứng do tác động từ những nguyên nhân xã hội (sự lừa lọc, dã tâm) và tâm lý bên trong (dục vọng bản năng, sự dễ dãi, cả tin…). Đây là yếu tố hết sức đặc sắc, mới lạ trong vở tuồng này. Vấn đề đặt ra đối với các nhà nghiên cứu hiện nay là tại sao trong thời đại Nguyễn Diêu sống, nguyên nhân xã hội – văn hóa nào cung cấp cho Nguyễn Diêu cái nhìn triết học và biện chứng như vậy và ông, bằng sáng tạo của mình, đã tạo ra một nhân vật Nguyệt Cô nổi tiếng cuốn hút khán giả từ nhu cầu văn hóa nảy sinh từ thời đại như thế nào?

Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá cao vở tuồng Ngũ Hổ bình Liêu cuốn hút người xem nhiều thế hệ, xem đây là một “kỳ thư” sân khấu, có giá trị rất cao về nhân văn và nghệ thuật. Và chỉ với vở tuồng này, Nguyễn Diêu đã xứng đáng được đương thời và hậu thế tôn vinh.

Vở tuồng “Liệu đố” đề cập đến “bệnh ghen” của phụ nữ, một căn bệnh khó chữa của con người có thể chữa khỏi bằng chính tình thương yêu của đồng loại. Điểm đặc biệt của vở tuồng này là cốt truyện tuồng không hề dựa vào tích truyện của kịch truyện Trung Quốc và là một hài kịch trữ tình chưa từng có trên sân khấu tuồng. Đây là một bước phát triển mới của tuồng Nguyễn Diêu trong tiến trình không ngừng mở rộng khả năng thể hiện của nghệ thuật tuồng và làm cho nó ngày càng gần hơn với đời sống con người đương thời.

Cũng theo giáo sư Hoàng Chương, những vở tuồng cũng như thơ văn của Nguyễn Diêu thể hiện rõ bút pháp và tài nghệ xuất chúng của ông. Nguyễn Diêu là một tên tuổi lớn của sân khấu và nghệ thuật truyền thống Việt Nam mà thành tựu sân khấu của ông hoàn toàn có thể sánh ngang với người học trò thiên tài của mình, hậu tổ tuồng Đào Tấn, cũng như sánh ngang với những kịch tác gia cổ điển thế giới.

N.H.S

Chú thích:

 

  • Vũ Ngọc Liễn, Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – Ông đồ nghệ sĩ, Nxb Sân khấu- 2011, tr 16;
  • Vũ Ngọc Liễn, Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – Ông đồ nghệ sĩ, Nxb Sân khấu- 2011, tr 51
  • Trích theo bài: Quỳnh phủ Nguyễn Diêu – Nhà thơ, nhà soạn Tuồng kiệt xuất, của giáo sư Hoàng Chương đọc tại hội thảo nêu trên;
  • Hữu Ngọc, Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh Niên- 2007, tr 968, 969