Nguyễn Văn Bổng – Một nhà văn xứ Quảng

Là người đã từng viết hồi ký văn học kháng chiến cho ông, có lần tôi đã nghe ông kể về cái giây phút xúc động trào dâng nhìn thấy phố xá, nhà cửa… bằng một con mắt khác, một cảm xúc khác, một tư thế khác – tư thế của người chiến thắng. Khác bởi vì ông đã từng vào hoạt động ở nội thành Sài Gòn từ 1966 đến 1968, nhưng rất ít khi được nhìn thấy phố xá ban ngày, chủ yếu là nằm hầm bí mật hoặc ở trong nhà, ban đêm mới đi ra phố. Trong hồi ký Từ vùng đất quê hương, ông cũng kể rằng: “Cuối năm 1966, tôi vào Sài Gòn, được giới thiệu với Vũ Hạnh. Thì ra đó là Nguyễn Đức Dũng, ở Thăng Bình, tôi đã biết từ hồi kháng chiến chống Pháp. Sang năm 1954, anh vào Sài Gòn, nổi lên là một cây bút truyện ngắn và phê bình. Anh đang là Tổng thư ký Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn, và là cây bút chính của tờ Tin văn. Tôi cộng tác với anh làm tờ báo này và hoạt động cho Lực lượng báo vệ văn hóa dân tộc/ Vào đợt hai cuộc tấn công Tết Mậu Thân, anh Lưu Nghi chia tay với nhau hồi 1953 ở Quảng Nam, đã đón tôi về ở trong nhà anh giữa Sài Gòn. Tôi biên tập, anh đánh máy để đưa các anh khác quay rô-nê-ô tạp chí Người Việt, lấy danh nghĩa là Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa bình để bí mật phát hành tờ tạp chí” (Về một vùng văn học, tr. 19). Vì vậy, Sài Gòn và các đô thị miền Nam đã đi vào trang viết của Nguyễn Văn Bổng như một vệt sáng lấp lánh, chiếm gần nửa sự nghiệp văn chương của ông.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng và Nguyễn Tuân tại Hà Nội năm 1973

Trong số 8 tiểu thuyết (trong đó có tiểu thuyết dài nhiều tập), 6 tập truyện ngắn, 5 tập ký, 5 kịch bản phim truyện và sân khấu, 1 tập tiểu luận phê bình, Nguyễn Văn Bổng đã cắm sâu ngòi bút vào đô thành Sài Gòn và các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam: Sài Gòn ta đó (1969), Áo trắng (1973), Sài Gòn 67 (1972-1982), Đường đất nước (1976), Ghi chép về Tây Nguyên (1978), Tiểu thuyết cuộc đời (1986-1991), Tiếng nổ Caravel (1999). Không kể các nhà nghiên cứu văn hóa – văn học như Vương Hồng Sển, Nguyễn Hiến Lê… chắc ít có nhà văn nào có những nhan đề lặp đi lặp lại như một điệp khúc Sài Gòn ta đó, Sài Gòn 67, Áo trắng Sài Gòn (nhan đề tiểu thuyết Áo trắng khi được dịch ra tiếng Hàn vào những năm bảy mươi). Ngoài quê hương xứ Quảng, ông còn có một miền quê sáng tác thứ hai, không chỉ là nông thôn Nam Bộ, mà còn tập trung vào các đô thị, trong đó chủ yếu là đô thành Sài Gòn.

Bút ký của Nguyễn Văn Bổng bao giờ cũng đầy ăm ắp các chi tiết, các sự kiện. Nó gần với ký sự hơn là bút ký, bởi lẽ các sự kiện luôn được làm đầy lên, lấn át những cảm xúc trữ tình đằm thắm và lãng mạn. Phần bút ký trong Sài Gòn ta đó cũng không phải là ngoại lệ. Ngay cả các truyện ngắn ở đây cũng thấm đẫm chất liệu thực tế, ít nhiều có pha chút “kiêu hùng” của đời sống chiến tranh, chưa có sự dụng công nghệ thuật cần thiết, rất gần gũi với những ký sự hoặc truyện ký, hơn là truyện ngắn. Vừa là người trực tiếp tham gia, vừa là chứng nhân của cuộc tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 vào đô thành Sài Gòn, tận mắt nhìn thấy sự hy sinh anh dũng của đồng bào đồng chí, cùng với sự rệu rã nhưng đầy ngoan cố và độc ác của kẻ thù, là chất liệu mỹ cảm đầy tự hào, để ông lần tìm ra đường kim mũi chỉ dệt nên bức phù điêu hoành tráng giàu chất sử thi Sài Gòn ta đó. Cũng với tâm trạng phấn khởi, cảm hứng ngợi ca và lối viết nhẩn nha nhấm nháp các sự kiện đầy tính phát hiện ấy, sau ngày thống nhất đất nước, ông đi dọc theo chiều dài đất nước, qua các tỉnh thành vừa mới thoát khỏi vòng kèm kẹp của địch, nhìn ngắm cảnh đẹp của non sông, chứng kiến niềm vui của mọi tầng lớp nhân dân trong những ngày hòa bình đầu tiên, nhất là gặp gỡ với các thế hệ cầm bút hoạt động ở nội thành, hoặc từ trên núi xuống như Thanh Hải, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Hà Khánh Linh (Huế), Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc (Đà Nẵng), Giang Nam, Văn Công, Nguyễn Khắc Phục, Thế Vũ, Nguyễn Hoàng Thu (Nha Trang)… trải dài theo bước chân dọc Đường đất nước; hoặc thăm lại chiến trường Tây Nguyên, nơi mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, nhưng do cuộc tiến công thần tốc, không thể viết kịp, nay ông quay trở về thăm, chứng kiến cuộc đời mới của bà con, đan xen với những hồi ức, kỷ niệm xưa trong Ghi chép về Tây Nguyên.

Tài năng văn chương của Nguyễn Văn Bổng thể hiện rõ nhất với tư cách là nhà tiểu thuyết. Điều đó đã bộc lộ ngay từ Con trâu, tiểu thuyết đầu tay của ông và cũng là tiểu thuyết đầu tiên của văn học Liên khu Năm kháng chiến. Áo trắng được tác giả ghi là “truyện”, dài 218 trang, nhưng không phải vì số trang, mà từ dung lượng hiện thực, tư tưởng chủ đề, nhân vật và cả lối diễn ngôn, đều vượt khuôn khổ của thể loại truyện, hoàn toàn có thể được xem như là một tiểu thuyết thực sự. Sách gồm có bảy chương, phản ánh và ca ngợi phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh ở đô thị Sài Gòn. Nhân vật trung tâm là nhân vật trần thuật ở ngôi thứ nhất, xưng tôi, tên là Nguyễn Thị Phượng. Cô sinh ra ở một làng quê nghèo, thường ngày ngoài giờ đi học, cô giúp mẹ gánh cá đi bán. Bố chết, mẹ gửi cô lên Sài Gòn cho người chú nuôi ăn học, được tổ chức móc nối, cô trở thành một cán bộ hoạt động nội thành gan dạ, dũng cảm, lập nên nhiều chiến công. Nhóm bạn, đồng thời cũng là đồng chí cùng hoạt động với Phượng mỗi người xuất thân một hoàn cảnh, một tính cách, nhưng đều có lòng yêu nước, cùng đi chung một con đường là đến với đến phong trào, rồi đến với cách mạng, trở thành những con người dũng cảm, trung kiên. B.B.Thanh là người Hà Nội, người anh rể lôi kéo di cư vào Nam với âm mưu chiếm đoạt của cải, ăn mặc phóng túng, tính tình ngổ ngáo nhưng sống rất chân tình. Hoàng là con nhà nghèo, hàng ngày phải đi đánh giày, bán báo, kiếm thêm tiền để đi học, lại là người chín chắn, có quan hệ và hiểu biết rộng. Hồng Lan con nhà giàu, ở biệt thự, đi xe hơi. Linh râu sống ngang tàng, bất cần đời… Điều quan trọng là khi họ đã được lý tưởng soi sáng, đều trở thành những  người gan dạ, mưu trí, hoạt động đem lại những chiến công vang dội làm rúng động tận tâm can lũ giặc, nhiều người trong số họ, như Phượng, Thanh, Hoàng đều bị sa vào tay giặc nhưng vẫn giữ vững được chí khí chiến đấu, hiên ngang vượt qua mọi cám dỗ, thử thách và những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, như chính câu thơ áo trắng mà Phượng đã viết ra trong nhà tù, sau những màn tra tấn dã man của kẻ thù: “Nhưng nay gặp cảnh đời chua xót/ Áo này nguyện trắng mãi không thôi”. Lồng trong các sự kiện mà các học sinh, sinh viên nội thành trải qua là sự phát triển của cách mạng miền Nam như phong trào đồng khởi, sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và mối tình chớm nở sáng tinh khôi giữa Phượng và Hoàng. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, tác giả còn hạn chế về bề dày của tính cách, đời sống nội tâm nhân vật chưa phong phú, nhưng đặc điểm thể hiện tài năng của nhà tiểu thuyết chính là không khí được miêu tả đậm đặc chất văn xuôi, thể hiện hơi thở ngột ngạt của đời sống đô thị dưới sự o ép, theo dõi, khủng bố tinh thần của kẻ thù. Dù chỉ bí mật vào hoạt động ở nội thành Sài Gòn mấy năm, mà như đã nói là chắc chắn rằng phần lớn ban ngày phải nằm hầm bí mật, ban đêm mới đi lại, nhìn ngắm phố phường, tiếp xúc với những người tin cậy… nhưng Nguyễn Văn Bổng đã có những trang viết không thua kém gì những nhà văn đang sống và viết công khai hợp pháp ở nội thành. Điều thú vị là, trong số nhiều tác phẩm của ông đã được dịch và công bố ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…trong đó có Áo trắng: “Nhiều bạn đọc hết sức vui mừng khi biết tác phẩm Áo trắng của ông được dịch và in ở Hàn Quốc với cái tên Áo trắng Sài Gòn. Sau khi Áo trắng Sài Gòn bị nhà cầm quyền cấm, nó đã được nhanh chóng sao chụp thành hàng vạn bản, phổ biến rộng khắp trong các trường đại học ở Hàn Quốc, trong sinh viên và thanh niên, như là một vũ khí, một tấm gương” [Đặng Minh Phương, sđd, tr.288].

Tiểu thuyết Sài Gòn 67 được tác giả thai nghén, bắt đầu viết những dòng đầu từ năm 1972, nhưng phải đến mười năm sau, năm 1982 mới hoàn thành và cho ra mắt bạn đọc. Vì vậy, tuy được bắt đầu từ rất sớm, nhưng tác phẩm thuộc loại viết về chiến tranh sau chiến tranh. Dường như đã có một thế hệ các nhà tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh như Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Thái Bá Lợi, Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh… đang thay thế ông. Nhưng Nguyễn Văn Bổng vẫn trước sau trung thành với lối viết của mình và với món nợ về đề tài chiến tranh chưa bao giờ trả đủ, nhất là với mảnh đất Sài Gòn, nơi chịu nhiều hy sinh mất mát để cưu mang mạng sống của chính bản thân ông, và lớn hơn, sự sống của cách mạng. Cũng vào thời điểm sau chiến tranh, nhà văn đồng hương Nguyễn Chí Trung, là thế hệ kế cận ngay sau lưng ông, đã từng cho rằng: “Chúng ta không cần đến chiến tranh, nếu không phải vì kẻ thù bắt buộc. Nhưng chúng ta đang cần đến những trang viết về cuộc chiến tranh thần kỳ của chúng ta mấy chục năm qua. Có lẽ còn cần hơn cả hồi đang chiến tranh. Nhân dân cần đến nó, những trang viết ấy, vì chính nhân dân khao khát tự soi mình, tự hiểu mình, tự bồi đắp cho mình phẩm giá đẹp vô ngần mà chính nhân dân đã tự đào luyện trong chiến tranh/ Chiến tranh tàn phá ghê gớm. Nhưng những gì con người thu lượm được trong khắc nghiệt của chiến tranh, những khổ đau, những bi tráng, những hào hùng, những tự vấn, những thẩm định, những phán xét, những cái bắt buộc con người nhất thiết phải lớn lên và trung thực, phải tự bóc dần cái giả dối, phải tự lọc dần cái ươn hèn, biết vượt qua cái cay đắng lắm lúc như một thứ định mệnh ập xuống đầu, tất cả những cái ấy cả khi thắng và khi thua, quý giá xiết bao. Song tất cả những cái ấy cũng sẽ rơi rụng, tan biến, mai một, chột thui dần nếu như không được kết tinh và cố định trong những tác phẩm hợp thành giá trị tinh thần” [Vùng đất sinh ra tôi, tr.48-49]. Dường như tất cả những điều này đã trở thành mục tiêu, động lực đã thôi thúc những người đã từng tham chiến cầm bút sau chiến tranh, và đã ít nhiều thể hiện được trong các tác phẩm. Với Sài Gòn 67 của Nguyễn Văn Bổng cũng không là ngoại lệ. Dung lượng khiêm tốn chỉ gói gọn trong thời gian chưa đầy một năm, các sự kiện xảy ra dọc hai bên bờ sông Sài Gòn, nhưng cuốn tiểu thuyết không dừng lại ở việc trình bày những vấn đề ở một vùng, một thời điểm, mà có khả năng khái quát được nhiều nơi, nhìn lại bối cảnh những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, trông ra trước mặt, thấy được xu hướng tất thắng của cuộc kháng chiến. Mặt khác, Sài Gòn 67 không chỉ thu hút một lớp người, một số phận, một chân dung nhân vật mà còn có sức chi phối đến nhiều lớp người, nhiều dạng nhân vật, từ thượng lưu trí thức đến tiểu thị dân, nông dân, cách mạng… trong thời điểm 1967, năm bản lề của cuộc kháng chiến, năm sục sôi và chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Điểm nổi bật là tác giả đã “vẽ” ra tấm bản đồ đường đời của hai tuyến nhân vật với xu hướng phát triển phù hợp với tính cách của nó. Một bên là luật sư Trần Thanh Phát khi còn là sinh viên đã ở vi-la, đi xe hơi, sau này trở thành ứng cử viên tổng thống; bóng dáng còn lưu lại thế hệ sau là Trần Thanh Hiệp với cái kết cục bằng cái chết thảm; hoặc Lâm Đại Tâm với tâm địa độc ác, lối sống sa đọa… Bên này là Huỳnh Thanh Hiệp, một sinh viên yêu nước, một thành ủy viên phụ trách trí vận và là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Riêng với Nhã, một thanh niên sinh ra và lớn lên ở miền Nam nhưng được hấp thu truyền thống gia đình, được may mắn có mối tình đằm thắm với Diệu Thúy và nhiều điều kiện khách quan khác đã đưa dần Nhã đến với cách mạng. Trong một hoàn cảnh khác, Diệu Thúy với tâm hồn trong sáng, tin vào lẽ phải trên nền tảng tinh thần yêu nước do ông nội – cụ giáo sư Nghĩa – nên mỗi bước đến với cách mạng đều mở ra những điều mới mẻ, để đi đến một thái độ dứt khoát… Nhà văn Bùi Hiển cho rằng, Nguyễn Văn Bổng là người xứng danh nhà văn chiến sĩ và tiểu thuyết Sài Gòn 67 được “viết mười năm, một đóng góp xuất sắc vào gia tài văn học. Bằng lời văn báo chí nhanh gọn chính xác, anh đã dựng lên hình ảnh những nhân vật sống động nhiều màu sắc và tâm tư nhiều cá tính độc đáo. Đây là lịch sử được tiểu thuyết hóa, giúp cho người đọc hình dung được phần nào đời sống riêng tư giữa các thành viên trong một gia đình với những sắc thái riêng biệt. Một mối tình cảm nam nữ trong sáng vô tư, được tô đậm thêm khi nhân vật nữ khám phá thêm ra những nét lý tưởng ở người yêu giữa khung cảnh chiến đấu và tàn phá ác liệt” [Báo Văn nghệ 21.7.2001]. Vấn đề mà các nhà lý thuyết văn chương thường đề cập đối với các nhà tiểu thuyết là trữ lượng của vốn sống và cách trải nghiệm của nhà văn. Đối với riêng trường hợp Nguyễn Văn Bổng, điều đó là hẳn nhiên. Nhưng dường ông là người đã tìm cách nhảy vượt lên trên những gì mình đã trải nghiệm, tìm ra những dư ba xung động trong tâm thức sáng tạo chợt chớp sáng, sau quá trình nung nấu hàng chục năm. Đọc tiểu thuyết sự kiện/ chiến tranh của Nguyễn Văn Bổng, trong đó có Sài Gòn 67, có thể thấy rõ điều ấy.

R.Gamzatov cho rằng: “Chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người”. Dù viết về đâu, đề tài, vấn đề gì, ông cũng nhìn  bằng con mắt và nói bằng giọng điệu tâm hồn của con người xứ Quảng. Cái chất/ tâm thức Quảng thể hiện ở lý tưởng thẩm mỹ sáng rõ và quan niệm nghệ thuật rạch ròi, đồng thời sẵn sàng chiến đấu đến cùng để bảo vệ lý tưởng đã đề ra và theo đuổi. Chính điều đó tạo nên nhân cách và cũng là văn cách/ phong cách của ông, xuất phát từ phẩm chất người của một con người xứ Quảng đậm đặc, cho dù sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ngay cả lúc cận kề cái chết trong những năm tháng lăn lộn ở nội thành Sài Gòn, cũng không thể nào pha loãng được, mà dường như càng sống, càng gian nguy, khốc liệt, càng làm đầy lên, đậm thêm như gừng cay muối mặn của quê nhà. Chính vì thế, với tư cách là công dân, ông được nhà nước ghi nhận và tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý, với tư cách là nhà văn, ông được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

                                                                                                             P.P.P