Nguyễn Phúc Trinh Thận và bài thơ làm năm Nhâm Tuất

Nguyễn Phúc Trinh Thận, tự là Thúc Khanh, hiệu là Mai Am, biệt hiệu là Diệu Liên, con gái thứ 25 của vua Minh Mệnh và bà Thục Tân Nguyễn Khắc Thị Bửu. Bà sinh năm Bính Tuất (1826) và mất năm Giáp Thìn (1904). Bà cùng với ba anh chị em cùng mẹ khác gồm Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Trọng Khanh Nguyệt Đình và Quý Khanh Huệ Phố đều là những nhà thơ hoàng tộc nổi tiếng đất kinh kỳ.

Là một công chúa nhưng Mai Am sống rất giản dị, không thích vinh hoa phù phiếm hay trang điểm làm đẹp cho bản thân một cách quá đáng như những người khác. Với sự dạy bảo nghiêm khắc của người mẹ “phong tư trọng hậu, cử chỉ đoan trang, nói cười đều chừng mực(1) và của người anh, mà cũng là người thầy, có học vấn uyên thâm nức tiếng xa gần là Miên Thẩm, ba chị em bà đều tu chí học hành, chăm lo đèn sách và tu dưỡng đức hạnh.

Quá trình bà được học tập tại Tôn học đường (lớp học dành riêng cho con cháu hoàng tộc) do chính Miên Thẩm giảng dạy và qua thực tế rèn luyện xướng họa thơ văn với nhiều văn nhân nổi tiếng trong và ngoài hoàng tộc, bà đã thực sự trưởng thành về tri thức cũng như tài năng sáng tác thơ ca. Đọc tập thơ Diệu Liên thi tập(2) của bà, chúng ta có thể cảm nhận được bà có được một tâm hồn thơ phong phú và sâu sắc. Năm 1850, Mai Am hạ giá với Thân Trọng Di – người xuất thân từ một dòng tộc nổi tiếng về học hành tại làng Nguyệt Biều thuộc ngoại ô kinh thành Huế.

Mai Am sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc, đó là sự xâm lược của người Pháp ngày càng tàn khốc, gây nên cảnh binh lửa nhiều nơi trên đất nước ta. Trong nội bộ triều đình Huế tư duy chiến hay hòa cũng rối bời, đến nỗi mà Nguyễn Lộ Trạch phải thốt lên là triều đình “chỉ thượng đàm binh(3) – tức việc binh chỉ bàn trên giấy. Tại miền Nam, sau khi thực dân Pháp chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, họ bắt đầu mở rộng tấn công trên nhiều vùng đất thuộc tỉnh Long An ngày nay như Gò Công, Tân An, Cần Giuộc. Đêm 16 tháng 12 năm 1861 những nghĩa sĩ nông dân yêu nước tại Cần Giuộc vì quá căm phẫn giặc Pháp đã tập kích đồn Pháp tại đây, tiêu diệt một số quan Pháp nhưng hơn 20 nghĩa sĩ đã hy sinh oanh liệt. Đây chính là bối cảnh mà Nguyễn Đình Chiểu đã viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một áng văn bi hùng, chứa đựng trong đó, một bên là lòng căm thù ngoại bang xâm lược, một bên là sự ca ngợi tấm lòng trung trinh của những người con Nam bộ, những người vốn là nông dân chân lấm tay bùn nhưng khi quốc gia lâm nguy thì “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia”(4) để chứng minh cho kẻ thù thấy ý chí bảo vệ độc lập tổ quốc của người Việt Nam như mấy nghìn năm qua.

Mai Am đã đọc đi đọc lại bài văn tế ấy của Nguyễn Đình Chiểu và bà đã làm bài thơ Độc điếu nghĩa dân trận tử văn (Đọc bài điếu văn các nghĩa dân tử trận) vào năm Nhâm Tuất 1862 như sau:

Điếu văn tam phục trọng bồi hồi.

Nghị phách từ phong tận khả ai.

Xích tử cần vương năng địch khái,

Thư sinh dụng võ tích phi tài.

Yên mê chiến lũy Tây nhung mãn.

Nguyệt lãnh sa trường bạch cốt đôi.

Quốc ngữ nhất thiên truyền bất hủ,

Tuyệt thăng Quảng Hán yểm khô hài.

 

Dịch nghĩa:

Bài điếu văn đọc nhiều lần thấy rất bồi hồi,

Khí phách cứng cỏi, lời văn mạnh mẽ thật đáng thương.

Người dân ra sức giúp vua,  căm giận kẻ địch,

Kẻ thư sinh muốn xông ra chiến trận, tiếc rằng chẳng có tài.

Nơi chiến lũy khói lửa mịt mù, đầy giặc Tây.

Dưới ánh trăng lạnh lẽo, xương trắng chất đống sa trường.

Một thiên quốc ngữ lưu truyền mãi mãi,

Hơn hẳn nơi Quảng Hán(5) xây mồ lớn chôn nắm xương khô.

Qua bài thơ này, Mai Am muốn bày tỏ nỗi xúc động của mình trước sự hy sinh anh dũng của những người nông dân cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó. Thông qua bài điếu văn thống thiết của Nguyễn Đình Chiểu, bà hiểu được quyết tâm và tấm lòng ưu hoạn của người Nam bộ đối với thảm trạng nước mất nhà tan. Năm Mai Am làm bài thơ này cũng là năm triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) thừa nhận quyền cai quản của quân Pháp tại Gia Định – Định Tường và Biên Hòa. Bà hiểu được sự xảo trá và hung hãn của quân Pháp đối với nhân dân Nam bộ. Từ hiện tại, bà nghĩ về quá khứ chỉ một năm trước thôi, khi những người nông dân ngã xuống, khi Nguyễn Đình Chiểu hòa nước mắt mình trong từng lời điếu văn. Mai Am như nghe thấy tiếng thét xông trận của những người nông dân chân đất trước mũi súng quân thù; như đọc được trăn trở của những người theo nghiệp đèn sách tự trách mình không có “võ lực” mà trả thù cho dân cho nước. Nguyệt lãnh sa trường bạch cốt đôi là một tứ quen thuộc của mảng thơ biên tái của Đường Thi để chỉ những cuộc chiến tranh khai biên khốc liệt đời Đường bên Trung Hoa, Mai Am đã mượn tứ này để nói lên sự ác liệt trong cuộc chiến chống Pháp của nhân dân Nam bộ lúc bấy giờ. Trong bài bát cú này, dù câu chữ hữu hạn do thể thơ quy định nhưng Mai Am đã khái quát được sự lẫm liệt của những nghĩa binh như miêu tả của Nguyễn Đình Chiểu là chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu,ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tậpmác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Nhưng họ có một nét chung là xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, vì đó là cái chết cho chính nghĩa. Nghĩa binh Nam bộ lúc này không hiên ngang, hào hùng như hình ảnh người lính trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn trăm thân có phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây có bọc trong da ngựa thì vẫn mong làm điều đó vì tổ quốc. Nghĩa binh Nam bộ vô cùng giản dị mà không kém khoáng đạt như đồng ruộng quê hương họ, chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ như Nguyễn Đình Chiểu đã viết! Nghị phách, từ phong là cảm nhận của Mai Am khi đọc điếu văn của Nguyễn Đình Chiểu nhưng suy cho cùng khí phách cứng cỏi ấy trong văn tế của ông là sự phản chiếu khí phách của những nghĩa sĩ bình dị vốn là nông dân Nam bộ. Hai câu thơ cuối của bài thơ: Quốc ngữ nhất thiên truyền bất hủ. Tuyệt thăng Quảng Hán yểm khô hài là lời Mai Am ca ngợi áng văn xưa nay hiếm của Nguyễn Đình Chiểu. Dự báo của Mai Am đã trở thành sự thật. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngày nay được xếp ngang hàng với Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, với Dụ chư tỳ tướng hịch văn (tức Hịch tướng sĩ) của Trần Quốc Tuấn, với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và nhiều kiệt tác khác của mảng văn chương chống ngoại xâm của dân tộc.

Cuộc đời của công chúa Mai Am không bằng phẳng, êm đềm trong nhung lụa như nhiều người nghĩ. Bà sinh hạ được một người con trai là Thân Trọng Mậu vào năm 1864, nhưng bốn năm sau, người con này bị bệnh mất. Đây là nỗi đau không gì khỏa lấp được. Trong Diệu Liên thi tập bà đã làm 15 bài thơ khóc con (Khốc nhi) với tâm trạng đau buồn, nuối tiếc và cô đơn. Chồng bà, ông Thân Trọng Di, là một người chân chất, có học hành nhưng không chuộng thơ văn. Cuộc sống vợ chồng không có sự đồng điệu về tâm hồn. Năm 1887, sau sự kiện thất thủ kinh đô (đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu), ông Thân Trọng Di cho rằng gia tộc mình nhiều đời chịu ơn nước, ơn vua nên ông chạy ra Tân Sở, vào rừng tìm theo xa giá của vua Hàm Nghi để thực hiện lý tưởng cần vương nhưng ông bị mất tích, đến nay không ai biết mộ phần ông ở đâu. Đây là nỗi đau lớn thứ hai trong cuộc đời Mai Am.

Cùng nỗi đau chung của người dân trước nguy cơ mất nước, Mai Am lại có nỗi đau riêng về hoàn cảnh gia đình. Thơ Mai Am phản ánh đầy đủ những trăn trở đó qua rất nhiều bài thơ. Điều đáng quý ở Mai Am là bà không rơi vào bi lụy mà vẫn cố sống và chia sẻ với đời nhiều bài thơ tả cảnh trong sáng, sống động (như các bài Thu Thiên, Lân hoa, Xuân Vũ, Ức mai, Thái liên …) hay những bài thơ tả cảnh ngụ tình sâu lắng mà đầy nghệ thuật, được nhiều nhà thơ đương thời nể phục như (Thu nhật càm hoài, ức Trọng Khanh, Thiếu Khanh; Minh phi oán, Lâm khúc …). Đặc biệt, bà vốn là người hoàng tộc nhưng luôn luôn dành cho người lao động, người nông dân một tình cảm nồng hậu, sẻ chia (như Nông phu từ, Phú đắc: Kí vũ tình diệc giai, Chu hành vãn quy liên cú …). Tuy là nhà thơ nữ nhưng bà lớn lên trong môi trường được giáo dục tử tế, được tiếp xúc với những người am hiểu chính sự nên bà cũng nhạy cảm với vận mệnh đất nước. Bà thường bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình về thời cuộc và có thái độ dứt khoát đứng về phía những người đang chiến đấu chống thực dân Pháp, mà tiêu biểu là bài thơ Độc điếu nghĩa dân trận tử văn chúng ta đang tìm hiểu. Trước đó, vào năm 1860,  khi quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng để hỗ trợ cho chiến trường Gia Định, bà cũng có bài thơ Tức sự chỉ Quảng Nam lỗ thoái sự, họa vận nghĩ ứng chế thể (nghĩa là Tức sự trước việc giặc rút khỏi Quảng Nam, họa vần bắt chước thể thơ ứng chế). Trong bài thơ này bà bày tỏ niềm vui khi quân Pháp rút khỏi Quảng Nam, ca ngợi quân đội của triều đình một lòng đánh giặc.

Tài thơ của Mai Am nói riêng và Tam Khanh(6) nói chung được những nhà phê bình đương thời đánh giá cao. Với Mai Am, đọc thơ bà, ta thấy đây là một thế giới thơ phong phú đa dạng về thể tài, cảm xúc, trong đó có cả những vần thơ tái buốt, đẫm lệ bà dành cho chồng con và khóc cho số phận mình. Nhưng quan trọng hơn hết là tấm lòng của bà dành cho cái chung (những người quanh mình, vận mệnh đất nước, cái đẹp của quê hương). Vì vậy năm 1866,  trong lời bạt của Diệu Liên thi tập, Nguyễn Thuận Chi đã viết : “Đọc thơ của Mai Am thấy dáng điệu tươi như mùa xuân, phép tắc thì hoa lệ, nghiễm nhiên lên đứng ngang hàng với các ông lớn tác giả nổi danh đời Đường, Tống. Phần tươi đẹp rực rỡ và tầm sâu rộng, phong phú không thể luận bàn hết …”. Nếu Mai Am nghĩ rằng Nguyễn Đình Chiểu sẽ bất hủ với bài điếu văn của mình thì người đời cũng có thể nghĩ rằng tài thơ của bà, nhiệt tâm và lòng ưu hoạn của bà đối với đất nước cũng bất hủ trong văn chương trung đại Việt Nam. Cuộc đời bà không chôn vùi “nắm xương khô” trong “nấm mồ Quảng Hán” như bà đã nói về Nguyễn Đình Chiểu.

                                                       L.C.V

Chú thích:

(1) Bia Tiên mẫu Thục Tân Nguyễn Khắc thị thần đạo biểu

(2) Xuất bản lần đầu vào năm 1867 – niên hiệu Tự Đức thứ 20 – gồm 177 bài thơ

(3) Lời Nguyễn Lộ Trạch trong bài văn nổi tiếng Thời vụ sách

(4) Trích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

(5) Trần Sủng đời Hậu Hán ở Trung Hoa, làm thái thú quận Quảng Hán, đêm nằm nghe tiếng khóc, cho là của những hồn ma chưa được mai táng, bèn cho người thu nhặt đem chôn. Sau đó không nghe tiếng khóc nữa. Ở đây chỉ ngôi mộ lớn.

(6) Tam Khanh: chỉ ba chi em Mai Am là Trọng Khanh Nguyệt Đình, Thúc Khanh Mai Am và Quý Khanh Huệ Phố, họ đều là những nhà thơ nữ thật sự tài năng lúc bấy giờ.