Mùa xuân và Lễ hội mừng lúa mới của đồng bào Xơ Đăng ở Nam Trà My

Xuân Mậu Tuất đang về, đồng bào các dân tộc huyện Nam Trà My, Quảng Nam đang vào xuân cũng với nhịp điệu rộn ràng và náo nức. Đường phố, làng, nóc tràn ngập sắc xuân, đầy ắp nắng vàng trong yên ả, xuân đến cũng là mùa của lễ hội dân gian, đây đó tiếng cồng chiêng, tiếng Klong put, tiếng Đing Tut đã bắt đầu thánh thót, âm vang sôi động với những tiếng vọng của thời gian, của núi rừng đang chậm rãi chuyển mình trong thời khắc giao hòa của khí thiêng đất trời sông núi vào xuân.

Mùa xuân là mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng ở Nam Trà My, mùa phát rẫy làm nương, những cây đàn Klông-pút được đem ra rẫy để trình diễn vì đối với người Xơ Đăng, không gian làm rẫy là chính, trong khi đó, nhóm địa phương M’Nâm làm ruộng nước, không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Họ chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá, đan lát, dệt, rèn. Nhóm Tơ-dra có nghề rèn từ quặng sắt rất phát triển và nổi tiếng. Mỗi làng người Xơ Đăng ở Nam Trà My, đều có nhà rông, nóc và mái được tạo dáng như cánh buồm lớn hoặc lưỡi rìu khổng lồ ngửa lên trời. Có hình chim chèo bẻo hay hình sừng thú chót vót ở hai đầu đốc. Nhà rông được dân làng tạo dựng nên hoàn toàn bằng cây gỗ có sẵn ở địa phương. Kỹ thuật xây dựng chỉ là lắp ghép và chằng buộc. Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau.

Lễ hội mừng lúa mới của người Xơ Đăng

Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các “thần” hay “ma” được gọi là Kiak (Kia). Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa… Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con “lươn” khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Ârm thực trong lễ hội

Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành… Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tùy theo mỗi làng, nhưng thường trong tháng Giêng, kéo dài từ 3 đến 4 ngày. Trong số các lễ cúng, lễ hội truyền thống của người Xơ Đăng, lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất. Người Xơ Đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu. Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ: Đàn, Nhị, Sáo dọc, đàn K’lông Pút, Trống, Chiêng, Cồng, Tù và, Ống gõ, Đàn nước… Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Sau khi thu hoạch, trong dịp lễ hội mừng lúa mới đầu năm, người Xơ Đăng (nhóm M’nâm) ở Nam Trà My rất yêu thích ca hát. Họ có lối Acheo h’nụ đ’bo để nam nữ hát đối đáp với nhau trong lễ hội mừng múa mới.

Lễ hội mừng lúa mới là lễ hội quan trọng nhất và lớn nhất trong năm của người Xơ Đăng ở Nam Trà My, do cả làng, nóc cùng đứng ra tổ chức. Trước khi diễn ra lễ hội mừng lúa mới, Hội đồng già làng họp lại ở nhà Rông (Giớng), họ phân công một người lớn tuổi am hiểu về luật tục, phong tục, tập quán, được mọi người kính trọng, vào rừng tìm cây Pa-geng, đem trồng ở vườn đất thiêng (Mo-Yàng). Khi cây Pa-geng đã lên xanh tốt, đồng bào trong cộng đồng làng chính thức tổ chức lễ hội.

Khoảng hơn một tuần trước đó, Hội đồng già làng họp tại nhà Rông, họ làm một con gà cúng để cho Yàng, thần linh, ông bà, tổ tiên, ma tốt… Tại đây, sáu thanh niên khỏe mạnh và một người lớn tuổi sẽ được phân công vào rừng tìm cây về làm cây nêu. Khi mặt trời vừa mọc từ sáng sớm, đồng bào tụ tập đến nhà Rông, trống, chiêng được lấy xuống và thử lại lần cuối, khách mời đã đến đông đủ, họ làm thịt một con gà trống tơ để tiến hành làm lễ trồng cây nêu. Họ lấy huyết gà bôi lên cây nêu như báo với Yàng rằng, lễ hội mừng lúa mới bắt đầu.

Trước khi diễn ra lễ hội, theo tập tục dân làng đến các thanh niên được chọn, lần lượt sờ vào lưng, vào đầu của từng người, sở dĩ làm như vậy là để lấy may và cầu mong hạnh phúc, khỏi ốm đau, bệnh dịch… Sau đó, những thanh niên được chọn và già làng đến khu vực trồng cây nêu, nơi cột các con vật hiến sinh heo, dê. Một tiếng hú lớn và dài của già làng như một hiệu lệnh vang vọng cả núi rừng đại ngàn, thể hiện lòng kính trọng đối với thần linh. Sau nghi thức này, heo, dê được giết mổ. Phần gan, tim, đem nướng để cúng Yàng. Tiết, thịt được chế biến và rượu dùng để cúng Mo-Yàng. Phần thịt đem nướng và chế biến nấu dùng để cúng mời Thần trời ăn trước (Pay Chim Yang).

Lễ cúng Yàng, lễ cúng Mo-Yàng, cúng mời Thần trời (Pay Chim Yang) ăn trước đã xong, dân làng, khách mời tụ hết về nhà Rông ăn uống, nhảy múa, các điệu trống, chiêng vang lên cho đến hết cả ngày và đêm. Vật hiến sinh cúng Yàng, thần linh gồm có 1 đầu heo và 7 con chuột nướng. Đầu heo để tạ ơn trời đất mừng lúa mới; chuột là báo cho thần linh đừng để những con vật phá hoại mùa màng năm sau. Đúng giờ tốt theo quy định của buôn, các gia đình mang lễ vật ra nhà văn hóa buôn bày biện, sau đó, già làng đứng ra làm lễ cúng và mời Yàng cùng về ăn cơm mới.

Tại buổi lễ, già làng báo với Yàng về tình hình sản xuất của người dân trong làng một năm qua, gửi đến Yàng những lễ vật mà đồng bào tự sản xuất, đánh bắt được như cơm lam làm từ lúa nếp tự trồng, cá suối nướng, thịt gà, thịt heo… và cầu mong Yàng phù hộ, giúp mưa thuận gió hòa để công việc sản xuất được thuận lợi, bà con có cuộc sống no đủ, mọi người đoàn kết.

Sau lễ cúng mừng lúa mới, đồng bào dân tộc Xơ Đăng biểu diễn các tiết mục văn hóa văn nghệ, thường có múa kết hợp với hòa tấu Cồng (Chinh), Chiêng (Guông) và các nhạc cụ diễn tấu mừng lễ hội, thi cặp đôi trang phục đẹp, tổ chức các trò chơi mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc bản địa như: giã gạo nhanh, kéo co, đi cà keo… kế tiếp là các món ăn ẩm thực truyền thống như: rượu cần, cơm lam, canh măng, heo nướng, đặc biệt là món thịt chuột đồng nướng, là món không thể thiếu tại lễ hội.

Vào ngày cuối của lễ hội mừng lúa mới, chủ yếu là lễ tại Mo-Yàng. Lễ vật cúng cho lễ này là một con gà luộc chín được đặt tại bàn thờ thiêng. Già làng đọc câu thần chú, lễ hội. Đầu heo, dê hôm trước lấy xuống xẻ thịt chế biến các món ăn, họ mời nhau ăn, uống rượu với những sẻ chia lời những nói chân thành, thắm tình, đạt ý. Trống, chiêng được đem treo vào chỗ cũ của nhà Rông. Dân làng và khách mời, bà con anh em lần lượt ra về và chờ đợi một mùa lễ hội vào năm sau.

Đồng bào dân tộc Xơ Đăng ở vùng cao Nam Trà My từ xa xưa đến nay luôn có truyền thống lưu giữ, bảo tồn các bản sắc văn hóa của dân tộc. Hàng năm các làng, nóc đều tổ chức lễ đâm trâu, mừng lúa mới…. tại mỗi buổi lễ đều tổ chức đánh cồng chiêng. Những năm qua, các lễ hội của người dân, trong đó có lễ mừng lúa mới cũng đã được tổ chức theo hướng đơn giản, tiết kiệm nhưng vẫn giữ được nét văn hóa của cộng đồng.

Trước kia tục tế Yàng mừng lúa mới của người Xơ Đăng diễn ra trong phạm vi từng gia đình, ngày nay đã trở thành lễ hội chung của cả cộng đồng, là dịp để các gia đình chuẩn bị những ché rượu ngon nhất, nướng cơm lam, nướng thịt góp với cộng đồng làng, nóc để tổ chức nghi lễ trong tình đoàn kết. Già làng là người được trọng nể nhất đứng ra điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng, đại diện cho dân làng tế lễ cảm ơn Yàng, cảm ơn thần linh cho mọi gia đình có một mùa lúa bội thu.

Lễ hội Mừng lúa mới của đồng bào Xơ Đăng ở Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam luôn diễn ra trong không khí phấn khởi, tươi vui, hòa hợp của mọi người trong cộng đồng, và rồi hứa hẹn mùa này năm sau lại cùng tụ họp với nhau làm lễ cúng Yàng, khởi đầu cho một năm mới, một mùa vụ mới. Đây chính là dịp để cộng đồng dân tộc Xơ Đăng ôn lại những phong tục tập quán truyền thống của ông cha ngày xưa; khôi phục và duy trì những nết đẹp văn hóa của dân tộc mình, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời quảng bá hình ảnh, vốn sống văn hóa phong phú của dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

                                                                                         N.P