Một đời ngồi bệt

Ông Nguyễn Tri Hùng trong một chuyến công tác vùng cao Nam Trà My năm 2017

Bữa đi đám tang anh Hùng, người nhà nói với tôi rằng bạn ảnh ở mô đông ghê, đủ thứ ngành nghề, người trên núi cũng có. Trên núi là bà con các dân tộc thiểu số. Người mô là bạn, chơi với anh Hùng ra răng tôi không dám nghĩ, chứ bà con trên núi thì chắc bắp, là xuống đây uống với anh một “ly” để tiễn đưa anh về với Giàng, với rừng thiêng, bếp lửa, con suối.

Người dạy vỡ lòng cho tôi về miền núi Quảng Nam, là anh Hùng. Tôi nhớ lần đó là năm 1997, một bữa trong quán rượu, nói thiệt và xin lỗi ai đó về chuyện xuất thân, là ngồi vô anh em có thói quen “Mi học ở mô ?”. “Mình học khóa với thằng Tu, nhưng khoa Sử”. Anh Phan Tấn Tu lúc đó là Thư ký tòa soạn Báo Quảng Nam. Thôi thì sử – địa chi, cứ thế lướt tới, sau đó anh hẹn khi mô qua mình chơi. Anh Hùng có lối xưng hô khá tình cảm, là mình nói với V, hoặc tôi với ông nghe (mỗi khi anh gay gắt hay mệt mỏi, bức xúc chuyện chi đó). Hễ tôi bí về miền núi, những vấn đề liên quan đến phong tục tập quán, chuyện làm ăn, những chính sách, đặc điểm địa hình chi phối đời sống, mỹ thuật, chuyện hôn nhân… Tóm lại là ưng chi hỏi nấy. Anh Hùng chưa bao giờ bí, cứ như ở anh có hết, như một thư viện, anh nói say mê, rành mạch, không quên bỏ qua một câu “V. cứ nghe rồi kiểm chứng”.

Với tôi, đây là thái độ của người làm khoa học. Kiến thức dân tộc học cùng mấy chục năm đẫm mình trong đời sống miền núi, khiến anh có được tư duy của người đọc sách, nghiên cứu lẫn thâu tóm tri thức bản địa. Dân tộc học chính  là văn hóa dân gian, mà đã vậy, không sống, không hít thở, không thiết tha máu thịt với cái bếp đồng bào, thì những ý kiến của mình dễ bị rơi vào khiên cưỡng. Tôi để ý các nhà nghiên cứu miền núi, một số rơi vào áp đặt, đi như đuổi gà qua đám giỗ, cứ cho mình hơn bà con, từ đó phán và áp đặt, từ cái ăn mặc đến chính sách. Nói thẳng, tôi ghét cay đắng nhà Gươl mái tôn, bức xúc trước kiểu lập làng hai hàng dọc đang có mặt ở một số bản làng. Người miền núi không có kiểu đó. Họ ở rừng thì nhà họ phải dưới tán lá rừng, cạnh con suối, quây quần, có sân để thả con heo con chó, có chỗ cất củi, có không gian chung để uống rượu. Chuyện này có lần anh nói với tôi: “Cũng khó bởi bây giờ nhiều biến động, từ quan niệm nhà cửa đến sản xuất, rồi mưa lũ ngày càng ác liệt, mình không làm quy hoạch tốt, rất dễ dẫn đến nguy cơ xấu về dân sinh, nhưng cái mình sợ nhất là văn hóa miền núi biến mất”. Nói rồi anh dẫn chứng hàng loạt; từ ăn uống, phim nhạc, áo quần, quan hệ hôn nhân, cứ kiểu theo đuôi người Kinh mà quên gốc tích rồi đến chuyện đánh thức ngôn ngữ bản địa.

“Miền núi bây giờ hết rồi V. ơi”. Một lần anh thốt lên như thế, cứ y như gia bảo của tổ tiên gia đình cố công cất giữ bao năm, đã bị con cháu mang đến bán, liệng xuống sông. Tôi biết, tâm sự ứa máu mà kín đáo đó không chỉ xuất phát từ một người có trách nhiệm về miền núi, mà hơn thế nữa và có lẽ là tất cả, đó là nỗi thiết tha của một người cả đời ngồi bệt trên bếp nhà sàn, uống ly rượu cần rót ra bát, ăn miếng cơm rẫy vừa gặt, con cá suối vừa bắt, miên man uống mà tai không ngừng nghe, mắt không ngừng nhìn, tim không ngừng thấu cảm, não không ngừng ghi nhận. Với tôi, thì anh chính là Người Rừng! Nguyễn Tri Hùng đích thực là đứa con của rừng, từ cách nói năng đến suy tư, hết lòng hết dạ, kiểu như cha mẹ sinh ra từ tiền kiếp đã đặt anh ở đó. Có lần anh cho tôi cuốn Truyện cổ Cơ Tu do anh sưu tầm rồi in ấn. Những câu chuyện mà thông điệp của nó chứa đựng đầy đủ cuộc sống ẩn tàng và hiển lộ của người Cơ Tu. Anh Hùng rành Cơ Tu ghê gớm. Có một người Cơ Tu cũng nghiên cứu miền núi, có lần nói: “Xì, Hùng thì biết được mấy đâu…”. Tôi đem chuyện này kể với anh, anh cười ngất: “Mình có nói hiểu giỏi hơn họ đâu, nhưng mình biết chắc chuyện đó nó như thế, mình khảo nghiệm rồi”. Khảo nghiệm là sự kết hợp sách vở hàn lâm và tri thức bản địa chứ không phải đứng ở một chỗ để minh định và xác quyết. Tôi nhớ có lần tôi đi Ngọc Linh, chạy qua anh tham vấn. Ạnh nói: “Nên đọc sách người Pháp viết về Tây Nguyên, đọc Nguyên Ngọc, thì sẽ hiểu người Xê Đăng ở Ngọc Linh, nhưng đọc và đi, ở với họ, nghe họ nói”. Đây là lời khuyên mang tính “bảo bối” với các nhà báo khi muốn đi đâu đó, làm chi đó ở một vùng đất mà mình chưa từng biết. Cũng một lần anh nói: “Tôi đố ông nghe, lên miền núi, muốn biết chuyện trong nhà người ta, thì hỏi ai?”. Rồi anh tiếp:“Hỏi phụ nữ, họ uống rượu thì ngồi hàng sau, nhưng mọi chuyện trong nhà họ nắm hết, biết hết, thậm chí quyết định…”. Tôi đã thử, sáng thức dậy sớm, rề rà với họ bên bếp lửa khi họ nấu cơm, đứng cạnh họ bên cối gạo khi gà mới chớm gáy, những thì thầm trong sương nói lên biết bao điều. Còn nữa, “Mình bày V. nghe, nếu vào làng đồng bào mà lỡ phạm luật, bị ai đó muốn xử, cứ vào Gươl mà ngồi, chờ già làng, cán bộ đến. Ngồi ở  Gươl thì không ai dám cầm giáo, dụ mà đâm mình, bởi đó là linh hồn, trái tim làng…”.

Tôi ngó cái ảnh thờ anh, chưa được sáu mươi tuổi thì đã về với đất. Giã biệt một người anh mà tôi kính trọng về học thuật, nhân cách, sống miệt mài với đam mê nghề nghiệp, một tửu đồ chưa một lần buông ly trước, một người mà hễ muốn biết miền núi từ sách vở đến nhịp thở ở đó, thì câu cửa miệng lập tức là “Hỏi Nguyễn Tri Hùng là biết”. Giã biệt anh trong nỗi buồn cuộn lên mà không dưới hai lần tôi nói ao ước của mình, rằng anh ra sách về miền núi đi, thì nhận được câu trả lời: “Mình có tư liệu rồi”, cứ nói vậy, rồi thôi. Giã biệt anh, một kẻ như lạc lõng thị thành, lơ ngơ ở phố bởi óc tim đã dìm đã treo đâu đó chốn rừng xanh có bao người lành hiền mà tâm tư, đời sống nguyên thủy của họ luôn mở ra những mênh mông bí hiểm lẫn mê hoặc với kẻ thị thành. Giã biệt anh, một kẻ đi lạc vào chốn hành chính, quan trường. Chỗ này có lần tôi nói với anh, rằng anh dật dờ, bỏ đi, làm một nhân viên bình thường nhưng là một nhà nghiên cứu, đừng để họp hành này nọ nó làm khổ mình. Anh nghe bèn cười, mình về hưu sẽ làm hết. Chưa kịp làm theo ý nguyện, anh đã đi… Thôi thì xong một đời. Giã biệt anh, Nguyễn Tri Hùng, đứa con của rừng một đời ngồi bệt…

                                                                 L.T.V