Lê Thị Xuyến và chuyện bảo vệ quyền lợi người phụ nữ

Cách đây tròn 110 năm, bà Lê Thị Xuyến – vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – sinh ra tại làng Thạch Bộ, tổng Mỹ Hòa, nay thuộc xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc. Năm 1928, tốt nghiệp Thành chung, Lê Thị Xuyến là phụ nữ đầu tiên ở đất Quảng nhận bằng “Diplome”- văn bằng danh giá lúc bấy giờ. Bà là người phụ nữ đầu tiên được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội khóa I và được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt). Bà cũng là nữ Phó Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam.

 

          “Oui ou non?” 

Theo cuốn “Nhớ cha tôi – Phan Khôi” của tác giả Phan Thị Mỹ Khanh (con gái nhà báo Phan Khôi), đầu năm 1928, Phan Khôi từ Sài Gòn về thăm nhà nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Thìn. Sau Tết, ông lên thăm người chú ruột là ông Biện Chín (tức Phan Định), đang mở tiệm thuốc bắc ở chợ Quảng Huế (thuộc xã Đại An, huyện Đại Lộc hiện nay). Lâu ngày không gặp nhau, hai chú cháu nói đủ thứ chuyện, rất vui. Chợt ông Biện lặng yên một lát, có vẻ suy nghĩ rồi nói với người cháu: “Chú đang gặp việc này. Chưa biết tính ra sao đây!”. Chuyện là, con ông là Phan Thanh trong thời gian học ở Quốc học Huế có biết cô Lê Thị Xuyến, quê làng Thạch Bộ, huyện Đại Lộc, nữ sinh trường Đồng Khánh và cũng thi đỗ Cao đẳng Tiểu học cùng một khóa. Khi gia đình ông Biện Chín nhờ mai mối đến dạm hỏi, bên nhà gái lúc đầu có hứa gả. Thời gian ấy, Phan Thanh đang dạy học ở Ngọc Lặc (Thanh Hóa). Sau vụ ông bị nhà cầm quyền thải hồi do viết nhiều bài báo đăng trên La cloche felec của Nguyễn An Ninh thì các bà bên nhà gái cũng lơ lơ, còn định gả cô Xuyến cho nơi khác giàu có hơn nhưng cô không đồng ý. Ông Biện nói sơ qua tình hình bên nhà gái để Phan Khôi rõ: “Đó là một nhà giàu. Bà Cửu là vai trên. Bà là người nuôi cô Xuyến ăn học vì cha cô mất sớm, nay gả cho ai là do bà ấy quyết định. Chú thấy nhà mình nghèo, không môn đăng hộ đối nên cũng khó…”. Phan Khôi suy nghĩ một lát rồi nói: “Chú để cháu đến xem sao”.

Khi được ông Biện chỉ vẽ đường sá, Phan Khôi đi ngay đến nhà gái. Khi chủ khách đã yên vị, ông tự giới thiệu và nói luôn mục đích của việc đến thăm đột ngột này. Bà Cửu nói: “À, việc ấy thì tôi cũng có biết nhưng gia đình chưa bàn bạc gì, mà cũng chưa hỏi cháu Xuyến. Xin các ông để thư thư một thời gian đã”. Phan Khôi không nài nỉ gì thêm mà chỉ xin phép bà cho gặp cô Xuyến. Bà Cửu không biết nói sao, phải cho người vào trong kêu cô Xuyến ra. Để các bà khỏi xen vào câu chuyện, ông dùng tiếng Pháp nói với cô Xuyến. Đại ý là, cô và Phan Thanh đã quen biết nhau, vậy là rất tốt, rất thuận, hạnh phúc sau này sẽ được đảm bảo, bây giờ ý kiến quyết định là ở cô, cô hãy suy nghĩ xem… Nhận thấy cô Xuyến có thái độ vui vẻ, Phan Khôi bèn giục thêm chỉ có một tiếng để trả lời: “oui ou non?”(đồng ý hay không?). – “oui” (đồng ý) – cô Xuyến mỉm cười, hơi cúi đầu e thẹn, nói nhỏ nhẹ. Thế là, Phan Khôi thuật lại cuộc trao đổi cho bà Cửu nghe và thuyết phục thêm mấy câu nữa. Cuối cùng, bà chấp nhận và đề nghị nhà trai tiến hành các bước thủ tục tiếp theo. Lễ thành hôn được tổ chức năm 1928. Như vậy, một cuộc cầu hôn rất mới, rất “Tây” đã thành công. Lần đầu tiên ở làng quê Thạch Bộ, một người phụ nữ đã tự mình quyết định việc hôn nhân mà không phải lệ thuộc vào việc “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Đây quả là chuyện hy hữu khi mà nông thôn bấy giờ còn nặng lễ giáo phong kiến. Theo bài viết “Chuyện tình của người nổi tiếng Lê Thị Xuyến” (Phunutoday ngày 22.5.2014), sau này, bà Lê Thị Xuyến tâm sự với người cháu Phan Thị Mỹ Khanh (tức Phan Thị Miều): “Tuy thím học ở Huế nhưng nhát lắm. Chú Phan Thanh đến dạy học cho các cháu trong nhà. Thím đứng ở nhà ngang – nhà ngang cách nhà trên xa – nhìn lên loáng thoáng thấy bóng dáng chú chứ không dám đến gần nói chuyện. Nhưng thím nghĩ, khi người ta không may bị mất việc, mình lại từ hôn thì trái với đạo lý làm người. Như vậy thật nhẫn tâm. Thím không làm theo lời chú bác, tự mình quyết định việc hôn nhân. Chú bác muốn từ hôn vì sợ cháu mình vất vả do chồng không có việc làm ổn định, chứ không phải chê nghèo”.

         Hết lòng chăm lo bảo vệ quyền lợi của phụ nữ    

Bà Hà Giang, người từng có thời gian cùng công tác với bà Lê Thị Xuyến ở cơ quan Hội Phụ nữ Trung ương cho hay: Bà Xuyến rất quan tâm đến công tác cán bộ nữ. Ngoài thủ đô Hà Nội, bà thường xuyên đi xuống một số cơ sở của vùng đồng bằng, trung du, miền núi của các tỉnh Thái Bình, Vĩnh Phú, Thái Nguyên… đồng thời đến một số ngành có đông lao động nữ mà mình am hiểu nhiều như ngành y tế, giáo dục,… Bà họp với chị em cán bộ để tìm hiểu về trình độ, năng lực đời sống gia đình, những khó khăn của chị em; mạnh dạn đề xuất ý kiến với cấp ủy địa phương, với ngành y tế về chủ trương tăng cường bồi dưỡng, đào tạo chị em, đấu tranh chống tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ, không đánh giá đúng trình độ, năng lực của cán bộ nữ. Bà coi trọng những ưu điểm của cán bộ trẻ như thông minh, hăng hái trong công tác, dám nghĩ, dám làm. Bà thông cảm, không thành kiến đối với nhược điểm của chị em trẻ như xốc nổi, bồng bột, thiếu chín chắn, thiếu kinh nghiệm. Trong kháng chiến chống Pháp, biết trong cơ quan có một vài chị em học sinh vốn là người thành phố thoát ly khi gặp gian khổ tỏ ra buồn nản, bà Xuyến đã gần gũi, động viên: “Đi kháng chiến, chúng ta còn được ăn no, còn đủ nước uống, chúng ta còn sướng hơn anh em bộ đội nhiều. Có nhiều ngày anh em cơm ăn không no, nước uống không đủ, thế mà vẫn vững tay súng, đối mặt với quân thù, chiến đấu rất dũng cảm, tin tưởng vào thắng lợi. Các em hãy phấn chấn lên, cố gắng chịu đựng gian khổ, cố gắng công tác. Toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm chiến đấu, nhất định nhân dân ta sẽ thắng, địch nhất định sẽ thua”. Chính sự gần gũi, giúp đỡ động viên kịp thời đã giúp chị em yên tâm, phấn khởi, cố gắng phấn đấu trở thành những cán bộ giỏi.

Ấn tượng sâu sắc về vị tiền nhiệm,bà Hà Thị Quế,nguyênChủ tịch HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam kể:Vốn thiết tha đến đời sống phụ nữ và nhi đồng, chị dành hầu hết sức lực, tâm huyết cho việc lãnh đạo xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo cho các thôn xóm, các xí nghiệp, công nông nghiệp. Chị cho rằng có quan tâm đến nhóm trẻ, mẫu giáo mới thiết thực giải phóng sức lao động của phụ nữ kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ nhi đồng, nhằm góp phần đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm lương thực chi viện cho tiền tuyến. Năm 1960, khi được giao trách nhiệm chủ trì biên soạn Luật Hôn nhân và gia đình, chị cùng với Luật sư Bùi Thị Cẩm tập hợp đội ngũ luật sư có trình độ, tâm huyết soạn thảo bộ luật có tác dụng là một cuộc cách mạng, góp phần giải phóng phụ nữ, chống tàn dư tư tưởng phong kiến, bảo vệ quyền lợi thiết thân cho phụ nữ Việt Nam. Khi đạo luật được ban hành, chị là người hăng hái phổ biến đạo luật xuống cơ sở. Bà Hà Thị Quế còn cho hay: Trong phong trào “Ba đảm đang”, nhận thấy trình độ phụ nữ cơ sở còn non kém, bà Xuyến cùng cán bộ sang bàn bạc với Bộ Giáo dục soạn thảo kế hoạch tổ chức các lớp bổ túc văn hóa và các kiến thức quản lý hành chính, quản lý kinh tế, bảo đảm công tác hậu phương cho chị em. Nhờ vậy, sau quá trình được tỉnh, huyện, xã bồi dưỡng, ở cơ sở đã xuất hiện rất nhiều nữ Đảng ủy, nữ Chủ tịch, nữ Chủ nhiệm xuất sắc, bảo đảm tốt công tác hậu phương, động viên đông đảo hội viên phụ nữ hăng hái, nhiệt tình, tham gia sản xuất chiến đấu và phục vụ chiến đấu tốt, góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện chiến trường miền Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ.

                                                              P.V.T