Ký ức hát bội

Một cảnh trong Tuồng “Đào Tam Xuân”

Cứ mỗi lần Tết đến là tôi lại bồi hồi nhớ lại kỷ niệm thời ấu thơ, thuở còn mặc quần xà lỏn chui rào đi xem hát bội, cải lương.

Những năm 60 của thế kỷ trước, nghệ thuật hát bội mặc dù không còn thịnh hành nhưng các gánh hát bội cũng còn đất diễn. Thời bấy giờ, Đà Nẵng là thành phố lớn nhất ở miền Trung, ngoài mấy rạp chuyên chiếu phim như Kinh Đô, Li Đô, Kim Châu, Chợ Cồn (sau đổi thành Tân Thanh), còn có Trưng Vương là rạp lớn nhất, vừa chiếu phim vừa có sân khấu để các đoàn cải lương, ca nhạc về diễn; rạp Hòa Bình chuyên diễn hát bội và cải lương; thêm một rạp nhỏ nằm ở đường Trưng Nữ Vương là rạp Túy Nguyệt cũng dành cho hát bội và cải lương, đầu tiên là gánh hát bội Trăng Vàng của nghệ sĩ Túy Nguyệt, một thời gian sau, hát bội xuống dốc, Trăng Vàng trở thành gánh cải lương, khi bà Túy Nguyệt bỏ nghề thì nghệ sĩ Bảo Toàn thành lập gánh cải lương Bảo Toàn đóng đô luôn ở rạp này, về sau không rõ tự lúc nào, rạp bị biến thành kho gạo.

Khoảng năm 1965, chiến tranh lan rộng ở nông thôn, ba má rước ông ngoại tôi ra Đà Nẵng, những năm ngoại còn khỏe, tôi thường theo ngoại đi xem hát bội ở rạp Hòa Bình và rạp Túy Nguyệt, nhưng thích nhất vẫn là xem hát bội ở sân đình Nam Dương. Đình Nam Dương nằm trên đường Hoàng Diệu, cách nhà tôi không xa, đây là một ngôi đình nhỏ nhưng sân đình rộng mênh mông, có mấy cây đa rất lớn, cành lá sum suê rợp bóng. Vào các ngày Tết, ngày lễ, các vị bô lão địa phương thường tổ chức tế lễ ở đình, trống chiêng vang rền, cờ xí giăng đầy, người ra kẻ vào rất nhộn nhịp, vui nhất vào dịp Tết Nguyên Đán, thế nào cũng có gánh hát bội hoặc cải lương về diễn suốt mấy ngày. Ngôi đình nằm sát bên nghĩa trũng Nam Dương (nghĩa trũng này có một phần đất thuộc phường Nam Dương, một phần thuộc phường Phước Ninh nên có người gọi là nghĩa trũng Phước Ninh), hồi đó tôi nghe nói bên trong nghĩa trũng vừa có hàng ngàn ngôi mộ vừa có một ngôi miếu rất linh thiêng ít ai dám đến, vì vậy càng tăng vẻ rờn rợn khi đi ngang qua khu vực này, buổi trưa, buổi tối con nít không dám lai vãng đến đình, vậy mà khi có lễ hội hay gánh hát về diễn thì hình như chẳng đứa nào còn nhớ đến cái sự linh thiêng, cứ kéo tới chạy nhảy đùa nghịch rồi tìm cách chui rào “coi cọp” (xem ké). Tôi còn nhớ, hồi đó gánh hát bội của bà Liễu (không rõ họ của bà là gì) thường diễn ở sân đình, thu hút không chỉ người lớn mà cả đám con nít ham vui. Bọn nhóc chúng tôi đi xem hát bội không phải vì biết thưởng thức nghệ thuật mà chỉ thích xem diễn viên mặc đồ đẹp dát kim tuyến óng ánh, võ tướng thì mang hia cong, đầu đội mão có tua hai bên hoặc gắn lông đuôi chim trĩ dài cong vút, giắt cờ sau lưng, mặt mày kẻ đủ màu đỏ, xanh, trắng, đen vằn vện rất lạ mắt, thích nhất là mấy cảnh múa thương, múa long đao, múa kiếm, cỡi ngựa… Dàn nhạc cổ lúc vui lúc buồn, thỉnh thoảng tiếng trống chầu nện “thùng thùng”, trống chiến gõ “tung tung, cắc rụp, cắc rụp” đàn cò, kèn thổi “ò í e”nghe rất “đã” tai.

Hát bội xưa. Ảnh: T.L

Nhớ lại thời ấy, cứ mỗi lần nghe người ta rao: “Tối nay tại đình Nam Dương, gánh Hát Bội… sẽ trình diễn vở tuồng… Kính mời quý khán giả đến xem” là tôi ăn cơm tối thật nhanh rồi lắng tai chờ, khi tiếng loa sắt kêu rột rẹt, tiếng thử máy “a lô một, hai, ba, bốn…” và tiếng trống chầu từ đình vọng lại là cùng mấy đứa bạn trong xóm cắm đầu chạy tới đình, quả đúng là: “Tai nghe trống chầu đâm đầu mà chạy”, lũ con nít đứa nào cũng cố đến sớm để giành chỗ ngồi, còn các ông lão, bà lão túc tắc chống gậy đi sau, không cần phải vội vã vì người ta đã dành hàng ghế đầu cho các cụ già.

Tôi để ý có mấy kiểu đi rất lạ của mấy ông diễn viên hát bội, họ mang hia cong, không đi bình thường mà hai chân lết nhanh lên phía trước không dỡ chân lên, khi lết đứng, khi lết ngồi, ngoại tôi nói đó là mấy động tác Bê đứng, Bê ngồi, mấy động tác đó thể hiện sự bi thương hay giận dữ; có khi đang đứng, ông diễn viên nhích liên tục qua bên trái hoặc bên phải mà cũng không thèm dỡ chân lên, ngoại tôi nói đó là động tác Siên, diễn tả sự suy tư của nhân vật. Tức cười nhất là cảnh phi ngựa, ông diễn viên cầm một chiếc roi dài có gắn mấy túm lông, làm động tác đá chân lên ngựa, một tay phất chiếc roi về phía trước, một tay như đang cầm dây cương, hai chân chạy nhịp nhịp quanh sân khấu; lũ con nít thấy hay hay nên bắt chước diễn trò phi ngựa, đứa nào cũng về nhà tìm một cây chổi lông gà, một tay phất cây chổi, một tay đưa ra phía trước giật giật, hai chân chạy cà tưng như ngựa phi, hò hét náo nhiệt.

Có lần đi xem vở Tuồng Ngũ hổ bình tây, đến đoạn nguyên soái Địch Thanh dẫn quân đánh nước Liêu nhưng lạc đường sang Thợn bang, bị công chúa nước Thợn là Trại Ba đánh bại, ép làm chồng, đám con nít khoái trá cười hí hí, thằng Dương là đứa to mồm nhất hét lên: “Ê tụi bay, ngó bà nớ dê chưa, gặp ông Nguyên soái đẹp trai là mê tít”, hào hứng nhất là đoạn Trại Ba dẫn quân đánh Liêu giải vây cho Địch Thanh, đứa nào cũng vỗ tay rần rần khen. Xem Tuồng thấy hay nên tôi ra quầy cho thuê truyện tìm đọc tiểu thuyết Ngũ hổ bình tây, truyện cũng hấp dẫn không kém xem hát bội, nhưng lạ là có mấy đoạn tên gọi nhân vật thấy khác, trong truyện, người ta viết công chúa nước Thợn là Thoại Ba nhưng trong hát bội lại nói là Trại Ba, không biết là truyện viết đúng hay hát bội đúng, tôi đem thắc mắc hỏi ông ngoại thì được ngoại giải thích đó là họ sợ phạm húy ông Thoại Ngọc Hầu nên đổi Thoại thành ra Trại, hồi đó tôi chưa hiểu phạm húy là gì, tôi đoán lờ mờ có lẽ phạm húy là người ta sợ gọi tên ông Nguyễn Văn Thoại sẽ phạm thượng.

Ông ngoại tôi rất sành hát bội, ngoại thuộc nhiều tuồng tích và một số vai diễn, cứ chiều chiều, ngoại ngồi trên chiếc ghế đặt trước hiên hóng mát vừa hát một mình, tôi còn nhớ mãi giọng ông ngoại hát vai Địch Thanh trong Tuồng Ngũ hổ bình tây: “Như tôi đây… phụng thánh chỉ bình Liêu, ngã Địch Thanh… nguyên súy…” kiểu xưng danh Hát bội này hình như đã theo lũ trẻ con nhập vào vai ông Thổ Địa trong múa lân, đứa nào đóng vai ông Địa cũng khoa chân múa tay, xoa xoa cái bụng phệ rồi xưng danh theo kiểu rất ư là… hát bội: “Như ta đây… là… Thổ Địa vâng lệnh Ngọc Hoàng, xuống trần gian để… phò hộ… dân lành”, có đứa còn cười hềnh hệch điệu nghệ như diễn viên trên sân khấu, rồi, có một thời kỳ không rõ ai sáng tạo, đã đưa thêm nhân vật Tôn Ngộ Không vào múa lân, đứa đóng vai Tề Thiên đeo mặt nạ khỉ nhảy loi choi bên ông Địa, múa mấy đường thiết bảng rồi xưng danh: “Như ta đây… là… Tề Thiên… Đại Thánh, vâng lệnh Phật Bà xuống trần gian để… diệt trừ… yêu quái…”.

Khoảng năm 1967, chiếc tivi đầu tiên xuất hiện trong xóm, con nít bu quanh  cửa sổ nhà ông Đinh để xem ké, anh em tôi cũng thèm thuồng mơ một cái tivi nhưng không đứa nào dám nói ra. Rồi một ngày chủ nhật đẹp trời nọ, ba tôi đã kêu xe xích lô chở về cái tivi Nationnal 19 in có thùng gỗ, lắp bốn chân cao rất hoành tráng, anh em tôi vui mừng nhảy tung tăng. Hồi đó chỉ có tivi trắng đen thôi nhưng không phải ai cũng sắm được, cứ mỗi tối má tôi bật tivi là con nít trong xóm kéo vào xem ké, nhà thì chật, không đủ chỗ cho con nít ngồi nên cứ có chương trình hay thì má tôi cho khiêng tivi đặt trước hiên cho mọi người xem. Má tôi rất thích cải lương và hát bội, không bỏ qua tuồng nào, đã theo lịch, cứ mỗi tối thứ bảy hàng tuần đài truyền hình phát một vở tuồng cải lương, thứ tư thì có chương trình hát bội. Còn nhớ, năm 1971 gánh hát bội Đinh Bằng Phi ra đời, trên đài truyền hình phát mấy vở tuồng rất hay như “Quan Công phò nhị tẩu”, “Sơn hậu”, “Phụng Nghi đình”, “Tống Thái Tổ trảm Trịnh Ân”… Thời gian đó sức khỏe ông ngoại tôi giảm sút nên không đi ra rạp chỉ ở nhà xem tivi, tối thứ tư nào tôi cũng ngồi bên ông xem hát bội. Diễn viên của gánh Đinh Bằng Phi mặc trang phục đẹp, đánh võ giỏi tôi nên rất thích, thế nhưng ngoại chê: “Mấy ông ni mặc trang phục đẹp, diễn giỏi nhưng hát không hay bằng dân Quảng Nam”, tôi không hiểu gì về hát bội nhưng nghe ngoại nói thì cứ dạ đại cho qua chuyện.

Nói thật tình, hồi đó tôi cảm nhận hát cải lương nghe mùi mẫn, dễ lọt tai hơn hát bội, diễn viên cải lương trang điểm phấn son mặt mày cũng sáng láng có vẻ đẹp hơn hát bội, tôi hỏi ông ngoại “Răng mấy ông hát bội không trang điểm như cải lương cho đẹp?”. Ngoại tôi cười và giải thích: “Rứa là con chưa biết cái hay của hát bội rồi, mỗi nhân vật hát bội được kẻ một gương mặt theo quy định để biết là người trung hay nịnh, ngay hay gian. Như ông Quan Công, ông Địch Thanh, ông Đổng Kim Lân là người nghĩa khí, trung trực thì kẻ mặt màu đỏ; mấy anh mặt trắng là bạch diện thư sinh; mấy ông như Trương Phi, Trịnh Ân là người nóng tính nhưng ngay thẳng thì kẻ mặt đen; mấy lão Bàng Hồng, Đổng Trác, Tào Tháo là loại nịnh thần, gian trá thì kẻ mặt mốc; mấy thằng tướng giặc hung dữ như Ô Hắc Lợi, Tạ Ôn Đình thì mặt đen thui có vằn vện…”. Nghe ông ngoại giải thích tôi mới biết thì ra hát bội hóa trang khác cải lương là vì lý do ấy. Về sau này, khi trưởng thành, làm việc trong ngành văn hóa, được xem các vở diễn của đoàn Tuồng Quảng Nam – Đà Nẵng và nhất là tiếp xúc với các bậc tiền bối trong ngành văn hóa như bác Hoàng Châu Ký, nhà nguyên cứu Nguyễn Vĩnh Huế, nhạc sĩ Trần Hồng, nhạc sĩ Trương Đình Quang thì càng hiểu thêm cái hay, cái đẹp của nghệ thuật hát bội, thấy được sự độc đáo của nghệ thuật hóa trang cũng như tính biểu trưng cao trong động tác, vũ đạo của hát bội.

Đến thập niên 70, phim kiếm hiệp, phim quyền cước Hồng Kông, Đài Loan tràn ngập các rạp phim ở thành phố, những cảnh phi thân, đánh kiếm, phóng phi tiêu, đá song phi, thiết sa chưởng trên màn bạc… đã hấp dẫn lũ con nít, lũ chúng tôi vẫn đùa nghịch ở sân đình nhưng gần như không còn đứa nào chịu ngồi xem hát bội mà chỉ thích xem phim kiếm hiệp Tàu hoặc mấy màn đánh chưởng trên sân khấu cải lương. Người lớn cũng bị cải lương thu hút, chỉ còn nghe mọi người nói đến các đoàn cải lương Kim Chung, Dạ Lý Hương, Thanh Minh Thanh Nga, hay cải lương Hồ Quảng Minh Tơ, chẳng còn mấy ai nhắc đến các gánh hát bội. Ông ngoại tôi vẫn cứ mong đến thứ tư để xem hát bội trên tivi, nhưng rồi đài cũng dần dần ít phát sóng chương trình hát bội, lâu lâu mới có một vở hát bội mà khuya lắc khuya lơ mới có. Buồn tình, ngoại tôi thường ngồi trầm ngâm trước hiên nhà một mình, thỉnh thoảng lại vuốt vuốt bộ râu dài trắng xóa, khe khẽ mấy câu Hát Khách, Hát Nam…

Năm 1973, ngoại tôi qua đời, không còn được nghe hát bội nữa, tôi tưởng mình đã quên luôn bộ môn nghệ thuật này rồi. Bẵng đi một thời gian, sau năm 1975, ở Đà Nẵng xuất hiện đoàn Tuồng Giải phóng từ chiến khu về, sau đó là đoàn Tuồng Quảng Nam – Đà Nẵng thường xuyên biểu diễn phục vụ nhân dân thì tôi lại được xem hát bội. Có một điều mãi đến bây giờ tôi cũng không hiểu vì sao ở miền Bắc gọi hát bội là tuồng, sau năm 1975, ở miền Nam nhiều người cũng bắt đầu gọi hát bội là tuồng. Ngày trước, người ta dùng từ tuồng để chỉ một vở diễn hát bội: tuồng San Hậu, tuồng Tống Thái Tổ trảm Trịnh Ân, tuồng Lưu Kim Đính giải giá thọ châu…, sân khấu Cải Lương cũng gọi vở diễn là tuồng: tuồng Đêm lạnh chùa hoang, tuồng Cánh hạc trong trăng, tuồng Chiêu Quân cống Hồ… Nhưng thôi, gọi bằng tên nào cũng được, Tuồng hay Hát bội cũng vậy, chỉ mong sao bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc sắc này của dân tộc được tiếp tục gìn giữ và lưu truyền mãi đến muôn đời sau, để khi tiếng trống chầu hát bội vang lên giục giã thì người dân xứ Quảng lại thấy nao nao, lại muốn “đâm đầu mà chạy”…

H.X.T