*Kỷ niệm 74  năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22.12 (1944 – 2018): Vinh Cường – Sâu thắm tình quân dân

Ông Văn Công Mịch năm nay đã 82 tuổi nhưng trí nhớ còn rất tốt. Ông là một trong số ít người sống sót qua thời Vinh Cường bị bom cày đạn xới. Phần lớn những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ông làm trưởng ban tiền phương của xã Xuyên Phú, nay là xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, chuyên lo tổ chức việc vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, thương binh qua lại trạm trung chuyển Vinh Cường. Ông kể: “Chuyển vũ khí xuống, chuyển hàng lên… Có lúc đạn thùng, có lúc loại gì như ống xe nước. Mình rút lực lượng đưa qua, chuyển xuống chợ Gò, Duy Hòa rồi họ chuyển đi đâu không biết nữa. Chuyện nớ thường xuyên, thương binh, vũ khí đạn dược, gạo thóc chuyển thường xuyên”.

Bến Đá, Vinh Cường điểm túc trực của đội thuyền tải thương, tải lương thực, vũ khí.

Thôn Vinh Cường thuộc xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên. Được phù sa sông mẹ Thu Bồn bao đời tưới tắm nên ruộng đồng, nà bãi nơi đây óng mượt, trở thành một trong những làng xóm trù phú nhất của vùng Tây Duy Xuyên. Nếu không có cuộc chiến tranh dữ dằn mà người Mỹ đã mang đến đất này thì cuộc sống người dân Vinh Cường vẫn cứ thế trôi đi trong nhịp điệu chậm rãi và bình yên nơi thôn dã. Từ năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bùng nổ, Vinh Cường trở thành điểm nút trọng yếu trên tuyến hành lang vận tải của cả chiến trường rộng lớn. Đạn dược, vũ khí từ đường mòn Hồ Chí Minh chuyển xuống các huyện đồng bằng Bắc Quảng Nam phần lớn đi qua Vinh Cường. Thương binh từ chiến trường Hội An, Duy Xuyên, Điện Bàn, gạo thóc do dân ủng hộ và mua từ vùng địch kiểm soát đều đi qua Vinh Cường để lên chiến khu. Từng có nhiều gắn bó với Vinh Cường, ông Trần Thận, nguyên Phó Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà 1965-1973  hiểu rất rõ vị thế yết hầu của vùng đất này: “Con đường đó là con đường huyết mạch. Chẳng những lương thực, vũ khí mà cả lực lượng quân sự cũng cơ động qua tuyến đường này”.

Từ năm 1965 đến sau Tết Mậu Thân năm 1968 Vinh Cường với khoảng 40 hộ dân rất thuần khiết trở thành một vùng giải phóng nho nhỏ bên dòng sông Thu. Tất cả họ gắn bó với cách mạng như một lẽ tự nhiên, như cơm ăn nước uống, như khí trời để thở. Dân làng từ lão nông, thanh niên đến phụ nữ, trẻ em đều tham gia công việc kháng chiến. Đội du kích xã Xuyên Phú, du kích Vinh Cường hồi đó nổi tiếng gan lỳ. Bất chấp hy sinh gian khổ họ vẫn bám đất bám làng để giữ vững đầu cầu này suốt những năm chiến tranh. Ông Lê Yến, nguyên Chính trị viên xã đội Xuyên Phú, huyện Duy Xuyên khẳng định: “Ở đây đơn vị du kích chúng tôi có một đặc điểm không bao giờ rút chạy. Những lúc ác liệt quá chúng tôi núp hầm bí mật chứ không rời đi. Vì đây là đường dây liên lạc của Mặt trận 4 Quảng Đà”.

Để đảm trách tuyến vận tải qua sông Thu Bồn, Ban Tiền phương xã Duy Phú thành lập một đội thuyền chiến. Ban ngày những chiếc thuyền nan bị nhận chìm dưới sông để giặc khỏi phát hiện, tối đến lại được vớt lên trực chiến. Ông Văn Công Mịch kể: “Đội thuyền ni chỉ có nông dân thực thụ, còn thanh niên đi thoát ly, đi du kích hết. Tuy tổ chức không nghiêm ngặt nhưng tính tự giác, tinh thần cách mạng của anh em rất cao. Có thương lên là đi. Ít thì huy động ít, nhiều thì huy động nhiều. Hồi đó nhà nào cũng có ghe để chống lụt, nên cần 5 chiếc có 5 chiếc, cần 10 chiếc có 10 chiếc”.

Những năm 1965 đến 1968, Vinh Cường là nơi đặt trạm phẫu tiền phương của Tỉnh đội Quảng Đà. Nơi được chọn ngôi nhà của bà Hồ Thị Cúc. Thương binh của các chiến trường Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên và cả Hòa Vang đều tập kết về đây. Tải thương qua các vùng sông nước, vượt qua hệ thống đồn bốt dày đặc của địch không phải một đêm là xong nên nhiều thương binh kiệt sức, vết thương đã hoại tử. Trạm phẫu tiền phương ở Vinh Cường là căn cứ lõm tương đối bình yên để họ được chăm sóc, sơ cứu trước khi đưa qua sông Thu Bồn lên vùng căn cứ. Những người mẹ, người chị, người em Vinh Cường không nề hà những vết thương đã bốc mùi hôi thối, ân cần chăm sóc các ca thương, vỗ về an ủi những đớn đau và chăm lo các chiến sĩ từng miếng ăn, giấc ngủ. Bà Lê Thị Lan, một trong những đảng viên hợp pháp ở Vinh Cường ngày ấy nhớ lại: “Tội lắm, giở vết thương ra dòi lớp lớp, trắng non rứa. Bọn tui mới lấy lá chuối lót, rồi lấy những chiếc áo cũ lau chùi sạch sẽ hết”. Bà Hồ Thị Cúc kể thêm: “Mỗi khi chuẩn bị đón thương binh về là chị em chuẩn bị đường sữa để chăm sóc anh em”. Cũng tại trạm phẫu tiền phương này, với những phương tiện rất thô sơ, các y, bác sĩ đã cứu sống được nhiều thương binh. Bà Phạm Thị Cường, quê Vinh Cường, hồi đó là người của Ban Dân y huyện Duy Xuyên kể: “Ở đây tiếp nhận, chăm sóc rồi đưa qua Phú Long. Có lúc cũng phẫu thuật, như cưa chân. Có lúc địch càn chặn tuyến trên không đưa đi được, mà đưa đi cũng chết thì mổ tại trạm phẫu. Tôi nhớ có ca mổ gan, chỉ quây vải dù lại, phun thuốc vô trùng, thắp đèn măng sông mổ, rứa mà sống”.

Những năm chiến tranh, quãng sông Thu Bồn hiền hòa chảy qua Vinh Cường nhiều lúc lại là đoạn sông sinh tử đối với cán bộ, du kích và người dân thôn Vinh Cường khi chuyển thương binh. Từ Vinh Cường họ chuyển thương qua Giảng Hòa, Phú Long, nhiều khi phải lên tới Xuân Nam của xã Đại Thắng huyện Đại Lộc để địa phương này tiếp tục chuyển cho bệnh xá Y 10 của Tỉnh đội Quảng Đà. Kẻ địch cũng biết nên bom tọa độ, pháo bầy, trực thăng tuần tiễu, quân bộ phục kích… đã gây cho ta không ít tổn thất. “Khiêng thương thì cũng như mình đồng da sắt, còn sống còn làm, chết thì thôi. Anh em đều xác định, rứa mới làm được. Có những lúc canh nông nó nã tầm tã, ngồi trên ghe nghe đạn pháo rớt xuống sông chụt chụt, rứa mà vẫn đi”, ông Mịch nhớ lại. Anh Lê Văn Sáu hồi đó còn ở tuổi thiếu nhi nhưng vẫn tham gia: “Nhiệm vụ của dân Vinh Cường chúng tôi hễ ai biết bơi ghe thì tham gia chuyển thương binh qua Giảng Hòa. Chuyển thương trên sông có lúc địch ở đồn Giao Thủy phát hiện, bắn ĐKZ lên, thương binh và dân đều hy sinh trên sông. Có lần hai mẹ con tôi đi chuyển thương, địch bắn pháo trúng cái nhà, may sao thằng em thoát chết”.

Vinh Cường nằm không xa Đức Dục. Đây là căn cứ được Mỹ bài bố rất hùng hậu để khống chế một vùng phía Tây Quảng Nam. Vinh Cường là cái gai trong mắt nên chúng chà xát thành vành đai trắng. Tháng năm 5 năm 1968 một đơn vị quân Mỹ càn vào Vinh Cường, trong phút chốc đã thẳng tay bắn giết 37 người dân vô tội gồm người già, phụ nữ và trẻ em. Cuộc thảm sát này khiến khoảng 6 gia đình ở Vinh Cường đã không còn ai hương khói trên cõi đời. Sau vụ bắn giết ghê rợn một số hộ dân Vinh Cường rúng động bỏ làng chạy. Dẫu vậy vẫn còn khoảng 20 gia đình quyết bám trụ, thủy chung với cách mạng tới cùng. Bà Trương Thị Phong kể: “Bom tọa độ hắn ném tre trảy chi chết hết; xe ủi thì dàn hàng ngang cày ủi ruộng vườn. Không còn cái cây, mùa hè nắng quá chừng quá đỗi, đứng đây nhìn thấy tận Kiểm Lâm. Ban ngày thì trốn tránh, tối về che tấm tranh ở, mai hắn càn lên đốt, rồi lại về che tấm tranh… Trời đất che chở răng, chứ chết là trăm phần trăm”. Khốc liệt là vậy mà gần hai chục hộ dân Vinh Cường vẫn gan lỳ trụ bám giúp cách mạng. Có bà mẹ gạo trút cho anh em mang đi, nấu cho anh em ăn, con mình bà nấu rau muống, ngải tây cho qua bữa. Như ông Trần Tứ chỉ có hai con gái, không ai theo cách mạng nhưng ông bám trụ tới ngày giải phóng. Hễ thương binh về là ổng giặt quần áo; hễ có người chết thì ông lo phần sửa tay, sửa chân, liệm chôn. “Cuốc chòm chòm, cấy bậy cấy bạ. Hồi đó lúa làm dễ trúng lắm. Gặt về cái mình ăn, cái mình bán, cái bộ đội họ về họ cõng… tốp này đi rồi, tốp khác vô. Chút mắm chút muối, mình cũng mua về cất giấu để anh em về lấy. Miết rứa đó”, bà Phong kể chuyện xưa bằng cái giọng rất chất phác Quảng Nam, mà dễ thương đến lạ!

Vinh Cường trong kháng chiến chống Mỹ là hình ảnh sinh động của cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, ở đó mỗi người dân từ già đến trẻ đều là chiến sĩ. Tựa vững vào mảnh đất quê hương họ quần lộn với giặc bất chấp mọi sự đánh phá khốc liệt. Dân bám đất, Đảng bám dân, điểm tựa trên một tuyến hành lang quan trọng đã được giữ vững cho đến ngày giải phóng. Và họ đã phải chấp nhận một cái giá mất mát ghê gớm. Tuy nhiên cho đến nay ngoài trang văn của Chu Cẩm Phong, chưa có tác phẩm văn học nghệ thuật xứng tầm nào lưu giữ lại những câu chuyện bình dị mà phi thường của người dân Vinh Cường thời đánh giặc cứu nước. Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà văn Hồ Duy Lệ cho rằng đó là món nợ mà thế hệ cầm bút của ông chưa trả nổi: “Khu Tây Duy Xuyên rất anh hùng, xã nớ là xã anh hùng nhưng chỉ có anh Chu Cẩm Phong viết được ít nhật ký, còn chúng tôi chỉ dừng ở một ít ghi chép, mô tả. Chưa viết được, đó là lỗi của các nhà văn. Vinh Cường anh hùng, quá sức anh hùng”.

Khi chúng tôi quay những thước phim tài liệu, ông Mịch, bà Cúc, bà Lan ông Yến và những người dân Vinh Cường thời trụ bám rất vui vì họ có dịp kể lại những câu chuyện tưởng đã đi vào quên lãng. Vinh Cường một thời đau thương và bất khuất, giờ cuộc sống mới đang dâng tràn. Những ruộng đồng, nà bãi ven sông Thu Bồn hơn bốn chục năm nay đã xanh lại màu no ấm. Dòng sông Thu Bồn một thời hòa máu đỏ giờ đã xanh trong, miệt mài đắp bồi phù sa lên ruộng đồng xứ Quảng, đắp bồi lên đồng đất Vinh Cường, để muôn đời bình yên đất này.

                             H.V