* Kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07.5.1954-07.5.2019): Điện Biên Phủ những “cận cảnh” sinh động và quý giá

Điện Biên Phủ là trận đánh đã được học viện quân sự cao cấp nhiều nước đưa vào chương trình giảng dạy như là một chiến lệ kinh điển. Và cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách báo trong và ngoài nước viết về trận đánh nổi tiếng này.Và cách đây 10 năm có một nhóm nhà báo trẻ Nguyễn Xuân Mai, Phạm Hoài Thanh, Đào Xuân Huyền, Đặng Đức Tuệ… với sự hỗ trợ của một số nhà khoa học, nhân chứng đã cho ra đời một cuốn “Chuyện những người làm nêm lịch sử – Hồi ức Điện Biên Phủ 1954 – 2009”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia nhận xét: “So với những cuốn sách về đề tài này thì đây là cuốn sách mới và lạ – mới lạ từ tác giả đến nội dung và cách thể hiện”. Sự mới lạ ở đây là các nhà báo trẻ này đã gặp và phỏng vấn khá nhiều người từng chỉ huy các đơn vị, chiến sĩ, các y bác sĩ, dân công hỏa tuyến… từ đó tái tạo sinh động những “cận cảnh” rất có giá trị về một sự kiện từng gây “chấn động địa cầu” này.

Ngược dòng lịch sử, ngày 20.11.1953 Na va – Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, ban đầu là để chặn quân ta tiến sang giải phóng Bắc Lào. Và rồi ông ta cho xây dựng nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố, xem nó là “cái nhọt tụ độc” để thu hút và tiêu diệt quân Việt Minh bằng một trận quyết chiến. Với ta, ban đầu Bộ Tổng tham mưu đề ra phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”. Quân lệnh như sơn, nhưng một số người đối diện với kẻ địch thì thấy có cái gì đó không ổn. Ông Đỗ Sâm, chiến sĩ lựu pháo 105 ly của Trung đoàn 45  kể: “Tôi đã thấy pháo địch véo qua đầu mình, quả thứ hai hụt phía sau, nghĩa là phát thứ 3 nó sẽ “căn” đúng mình. Rất lo. Pháo ta để tơ hơ ở ngoài, chưa hề có công

Mở đường lên Điện Biên Phủ, ảnh chụp lại

sự, ta định dốc toàn lực ra nhưng rất có thể bị nó “giã” chết”. Từ thực tế chiến trường và so sánh binh lực, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nhưng để đi đến quyết định đó, bên cạnh Đại tướng còn có sự góp phần những người rất tỉnh táo và dũng cảm. Đó là trường họp ông Lê Trọng Nghĩa – Cục trưởng Cục quân báo. Qua tin tình báo kỹ thuật, chính ông đã trực tiếp báo cáo với Đại tướng là địch biết rất rõ kế hoạch, ngày giờ “đánh nhanh thắng nhanh” của ta và đã có kế hoạch đối phó. “Việc làm của tôi là rất nguy hiểm vì trong kỷ luật chiến trường khi Bộ Tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm, khi mệnh lệnh đã ban ra thì nhất nhất thi hành, cấm tất cả tướng sĩ nói khác đi, làm người chỉ huy nao núng”.Quan điểm của ông Nghĩa đã góp phần quan trọng để Đại tướng ra “quyết định khó khăn nhất” trong đời cầm quân của ông và nhờ đó tránh được một thất bại cầm chắc.

Với cuốn “Chuyện những người làm nên lịch sử – Hồi ức Điện Biên Phủ 1954 – 2009” nhóm nhà báo trẻ đã tái hiện rất nhiều cận cảnh về độ khốc liệt của trận đánh 56 ngày đêm “máu trộn bùn non” cùng tinh thần anh dũng vô song của những chiến sĩ Điện Biên. Ông Đinh Văn Định, cán bộ tác huấn Tiểu đoàn 29, Trung đoàn 8, Đại đoàn 308 kể khi đánh đồi Độc Lập: “Tôi không nhớ bao nhiêu người hy sinh. Khi đánh xong về gặp đồng chí anh nuôi, cậu ấy khóc bảo: “Không ai về nhận cơm nữa rồi”. Ông Đặng Kim Lung, tiểu đội trưởng bộc phá của Tiểu đoàn 215, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 kể: “Ở đồi C1 ta hy sinh nhiều lắm nhưng không nao núng, anh em xác định sẵn sàng hy sinh. Có một cậu mới bổ sung, chỉ nhớ tên là Đức, quê ở Thái Bình. Khi cậu ấy hy sinh, giở ba lô cậu ấy thấy lá thư gửi cho vợ. Thư có đoạn viết: “Anh biết trong trận chiến đấu này có thể hy sinh nhưng không ân hận gì. Vì nhiệm vụ… em có đi bước nữa nhờ ai trông con thì nhờ người ta dạy bảo con khôn lớn trưởng thành… Nếu ông bà nào nuôi cháu, vì nhiệm vụ bố cháu phải hy sinh, xin dạy bảo để cháu khôn lớn trưởng thành”.

Chiến trường dĩ nhiên ác liệt, nhưng ở Điện Biên Phủ không phải chỉ có đầu rơi máu chảy, các tác giả tập sách vẫn khai thác được những câu chuyện tình rất dễ thương. Đó là câu chuyện nữ y tá Trần Bích Thọ thầm yêu một thương binh. Bà kể lại: “Anh chơi đàn ghi ta giỏi, khi hồi phục chiều chiều anh ôm đàn ra bờ suối chơi bài Bên cầu biên giới. Tôi nhớ có câu: “Em đến bên tôi một chiều khi nắng phai rồi”. Tôi cứ lén ra bờ suối, lấy cớ phát thuốc để nghe và nói chuyện với anh. Khi bình phục anh về đơn vị. Chia tay, anh cầm tay tôi nói; “Anh rất yêu em, y tá ơi”. Đánh nhau, sống chết chỉ gang tấc thế mà chuyện tình của cô y tá Thọ  kết thúc rất có hậu. Không lâu sau khi lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm Đờ Cát, họ đã cưới nhau. Tập sách còn có những câu chuyện tình thú vị như thế, chuyện cả đơn vị cùng nghe một chiến sĩ đọc thư người yêu vừa nhận được tại chiến hào…

Một số nhân chứng trong tập sách

Trong suốt cuộc trường chinh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong thế kỷ XX, lực lượng chính là những người nông dân. Và họ đã đem cả nền văn minh lúa nước, văn hóa nông nghiệp ra chiến trường. Người đọc hôm nay hẳn sẽ rất thú vị khi được tái hiện lại cảnh… đóng cối xay để xay lúa tại mặt trận: “Họ vào rừng chặt tre đan cót làm áo cối, chẻ nan tre đan thành cối, gọt tre già làm dăm cối… Hàng trăm chiếc cối xay đã được cung cấp cho các kho, các công trường xay giã. Tại các kho chứa thóc hàng chục chiếc cối chạy ầm ì, tiếng giã thập thình… Đồng bào dân tộc quanh vùng kéo đến xem bộ đội xay thóc, giã gạo. Nhìn những chiếc “máy” bằng tre quay tít, nhả ra những hạt gạo họ không khỏi hiếu kỳ”. Và khi quân ta siết vòng vây quanh cách đồng Mường Thanh bằng trận địa hầm hào cũng chính những người nông dân mặc áo lính đã sáng tạo ra những cách đánh giặc rất độc đáo, hiệu quả. Đó là cách dùng rơm bện thành con cúi lớn để chắn đạn bắn thẳng và đào dũi đường hầm dưới mặt đất để tiến đánh cứ điểm giặc Pháp. Ông Lê Kim, Trưởng ban Tuyên huấn Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 kể: “ Khi trung đoàn trưởng nêu khó khăn trong việc đào lấn, tôi nhớ ba cậu tân binh ở Việt Yên, Yên Dũng đề ra giải pháp: “Em thấy nên làm con cúi bằng rơm thật to, lăn lên phía trước, khi địch thấy động bắn ra thì đạn găm cả vào đó, mình  đỡ thương vong mà tiến lên được”. Khi vào gần đến hàng rào thép gai thì đào luồn xuống dưới, tạo đường ngầm vào trong”. “Chúng tôi đào đường hào ngầm, chiều sâu, chiều rộng có thể mang theo vũ khí tiến công được, nóc đường hào để lớp đất dày từ 60-70cm, cứ mỗi đoạn lại khoét một lỗ thông hướng. Ánh sáng bằng pin ắc quy, phải dùng la bàn để giữ không chệch hướng đường hào… đất đào được chuyển ra xa ngụy trang thật kỹ. Đường hào càng vào sâu càng khó khăn vất vả, căng thẳng với tiếng lựu đạn, tiếng súng cối nổ ngay trên nóc.”, ông Vũ Xuân Vinh, tham mưu trưởng Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 bổ sung thêm. Bằng cách này đêm 22.4.1954 chiến sĩ Trung đoàn 36 đã luồn sâu vào cứ điểm 206 án ngữ phía Tây Bắc Mường Thanh, sau đó đội đất xông lên làm cho quân Pháp không kịp trở tay. Ông Lê Kim kể tiếp: “Đại tướng đã điện khen đơn vị có lối đánh sáng tạo. Rất tiếc từ ngày đó đến nay tôi và nhiều anh em cán bộ cố nhớ lại tên ba chiến sĩ đã có sáng kiến đào dũi đó là ai, nhưng không nhớ được”.

Những giây phút cuối cùng của trận Điện Biên Phủ cũng được tái hiện rất sinh động. Đó là cảnh quân Pháp lũ lượt ra hàng trong buổi chiều lịch sử mùng 7.5.1954: “Đến chiều khi từ trong các hang hốc chúng kéo nhau ra hàng, giơ cờ trắng. Từ trên cao nhìn xuống tôi thấy hệt như đàn kiến mang trứng chạy lụt, từ trong hang bò ra” – ông Lưu Trọng Lân, cán bộ tham mưu tiểu đoàn 386 pháo cao xạ kể. Và cũng đã xảy ra câu chuyện cảm động về tình người giữa những đối thủ đã từng chĩa súng vào nhau. Đó là câu chuyện của ông Trần Quân Lập, Chính ủy Trung đoàn 209, Đại đoàn 312: “Lúc thu xếp công việc xong, mấy anh em chúng tôi định vào hầm Đờ Cát xem thế nào. Tù binh đang được dẫn ngược ra. Tôi cùng mấy anh định tránh sang một bên nhường đường, đột ngột trong hàng ngũ tù binh có tiếng hô: “Attention! Mines!”, nghĩa là: “Coi chừng, có mìn!”. Tôi biết tiếng Pháp nên bảo anh em tránh, không đi nữa kẻo thương vong.  Có lẽ tâm lý lúc ấy hòa bình rồi,không còn thù đich. Đó là tình cảm con người”. Còn ôngNguyễn Hải Bằng, đại đội trưởng 312, Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 174 nhớ như in cảm giác hân hoan của ngày chiến thắng:“Tối hôm giải phóng không còn bom đạn, tôi cho bộ đội ra ngủ ở ngay trên đồi A1. Lần đầu tiên anh em trải bạt nằm ở trên mặt đất. Hôm ấy trăng sáng rất đẹp. Không ai ngủ được, anh em vui quá pha cả thau cà phê ra uống với nhau. Toàn nói chuyện sẽ về giải phóng đồng bằng. Nhớ quê càng không ngủ được”.

Tập sách “Chuyện những người làm nên lịch sử – Hồi ức Điện Biên Phủ 1954 – 2009”, chủ yếu ghi lại ký ức của những con người bình dị mà dũng cảm, vì vậy nó tạo nên sự độc đáo, tươi mới. Mỗi người tùy theo nhiệm vụ, vị trí chiến đấu của mình, đã có một góc nhìn, đã lưu giữ những ký ức riêng sống động, sâu lắng về cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân ta tại chiến trường Điện Biên Phủ. Tập sách xuất bản đã 10 năm, chắc nhiều nhân chứng đã qua đời nhưng những hồi ức của họ đã “góp phần bổ sung những mảnh ghép, những mảng màu tô đậm và làm phong phú, đa dạng thêm bức tranh toàn cảnh vô cùng bề thế, hoành tráng của chiến công lịch sử Điện Biên Phủ” – cố giáo sư sử học Phan Huy Lê đã đánh giá như vậy.

                                        H.V