Kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968-2018): BẢN HÙNG CA “CHÂN TRẦN – CHÍ THÉP”

Để thực hiện bộ phim tài liệu kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân  Mậu Thân 1968, chúng tôi đã tìm gặp khá nhiều nhân chứng lịch sử trên vùng đất Quảng Nam và Quảng Đà ngày ấy. Với họ ký ức về sự kiện vô tiền khoáng hậu ấy vẫn còn khắc sâu trong tâm khảm.

Ông Trần Thận, nguyên Phó Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà cho biết, năm 1962 ta chia tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh: Quảng Nam và Quảng Đà. Quảng Nam gồm các huyện Nam, Bắc Tam Kỳ; Thăng Bình, Quế Sơn, Hiệp Đức, Phước Sơn, Tiên Phước, Trà My. Tỉnh Quảng Đà, đến năm 1967 đổi thành đặc khu Quảng Đà, gồm các huyện còn lại và thành phố Đà Nẵng. Đến giữa năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tiến công vào các thành phố lớn và các quận huyện lỵ của địch, nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đưa cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới. Ông Trần Thận nhớ lại: “Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu V giao nhiệm vụ cho hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà được dùng các lực lượng quân sự, chủ yếu là quân địa phương kết hợp với quần chúng nổi dậy tiến công vào các huyện lỵ, trọng tâm là tấn công vào thị xã Hội An và  thị xã Tam Kỳ – nơi đóng các cơ quân đầu não của địch. Khó khăn đến máy cũng phải khắc phục, phải cắm cho được lá cờ Mặt trận lên dinh tỉnh trưởng ngụy”.

Thực hiện mệnh lệnh, cả chiến trườngQuảng Nam và Quảng Đà khẩn trương chuẩn bị. Về quân sự, ngoài các tiểu đoàn đã có ta thành lập thêm đơn vị mới, Quân khu V bổ sung các đơn vị đặc công, pháo binh.“Về chính trị, Tỉnh ủy Quảng Nam chủ trương ưu tiên xây dựng thực lực trong vùng địch kiểm soát để tiếp ứng khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy nổ ra. Ở vùng giải phóng, tổ chức lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng, cán bộ làm nòng cốt, hình thành đội hình đội ngũ chặt chẽ, chuẩn bị sẵn sàng để khi bộ đội đánh đến đâu thì phối hợp chiếm lĩnh các quận lỵ, tỉnh lỵ, đồn bốt và nhất là phá các khu đồn đưa dân về làng cũ” – bà Hồ Thị Kim Thanh, nguyên Hội trưởng Hội LHPN tỉnh Quảng Nam kể.

Qua hồi ức của nhiều vị lão thành cách mạng, có thể thấy rõ không khí chuẩn bị cho trận đánh lịch sử ngày ấy diễn ra sôi nổi ở rất nhiều làng quêxứ Quảng 50 năm trước. Về xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, chúng tôi cũng được bà Trần Thị Điềm, nguyên Hội trưởng phụ nữ xã diễn tả lại cảnh tượng thật khẩn trương: Đàn ông lo việc sửa chữa lại ghe thuyền, đi mua tre về đan thêm ghe mới chờ ngày chở bộ đội, cán bộ và nhân dân vượt sông Thu Bồn tiến về Hội An. Xã cử dân công lên khu Tây Duy Xuyên vận chuyển đạn dược về lót sẵn cho bộ đội; mua gạo về chôn giấu sẵn ngoài bãi cát để nuôi quân; thậm chí còn chuẩn bị cả quan tài để lo công tác tử sĩ. Hội phụ nữ xã bố trí nơi tiếp đón, chăm sóc thương binh từ mặt trận Hội An đưa về;vận động các mẹ chị chuẩn bị đường, sữa, trứng gà… để bồi dưỡng các ca thương. Riêng mũi đấu tranh chính trị vùng Đông Duy Xuyên sẽ phối hợp với Đông Thăng Bình vượt sông Thu Bồn tiến về tỉnh lỵ Hội An để giành quyền làm chủ.Ở Mặt trận Quảng Nam cũng quyết liệt không kém, các huyện thị ráo riết củng cố, phát triển lực lượng đấu tranh chính trị. Ông Nguyễn Văn Lời, nguyên xã đội trưởng Kỳ Khương, nay là xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành kể: “Ở Kỳ Khương cán bộ đảng viên và quần chúng cốt cán đã cắt ngón tay lấy máu để viết khẩu hiệu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Gần Tết Mậu Thân chúng tôi còn làm thịt vịt tổ chức liên hoan trước khi xuất trận. Ai cũng biết đây là trận đấu sinh tử nhưng không người nào chùn bước”.Tiểu đoàn 70 thuộc Tỉnh đội Quảng Nam chủ công đánh vào tỉnh đường Quảng Tín. Đơn vị chuẩn bị vào trận với dũng khí ngùn ngụt:“Ai cũng hăm hở. Ngay cả những người làm nhiệm vụ sản xuất cũng xin đi đánh.Nhiều chiến sĩ còn để giành bộ quân phục mới để vào thành phố mặc.Tinh thần là đánh chiếm giữ, thương binh đưa vào bệnh viện Tam Kỳ cứu chữa.” – Ông Lê Hải Lý, nguyên Chính trị viên tiểu đoàn kể.

Thời điểm mở màn cuộc Tổng tiến công nổi dậy trên toàn miền Nam được ấn định vào đêm 30 rạng ngày 31.01.1968. Tuy nhiên do cách tính lịch giữa hai miền Nam – Bắc lúc bấy giờ lệch nhau, theo đó miền Bắc ăn Tết sớm hơn miền Nam một ngày. Vì vậy phải lùi trận đánh lại một ngày. Trong lần phỏng vấn cách đây 5 năm đại tá Trần Kim Anh, nguyên Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Nam kể: “Nhận lệnh, tay tôi cầm ống nghe mà cứ run cầm cập. Nguy hiểm quá, quân đã rấm sát vào sát mục tiêu của địch rồi. Hàng nghìn con người rút ra, náu lại suốt ngàygiữa lòng địch làm sao giữ bí mật. Nhưng quân lệnh như sơn, phải chấp hành”.Ở Quảng Đà, do không nhận được lệnh hoãn nên cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào tỉnh lỵ Hội An vẫn nổ ra vào đêm 30 rạng ngày 31.01.1968. Chiến sự tại khu Công binh và Chi Lăng diễn ra ác liệt. Tiểu đoàn công binh 102 và tiểu đoàn bảo an ngụy dựa vào hệ thống công sự kiên cố dùng hỏa lực mạnh chống trả các đợt xung phong của ta. Đến trưa ngày 31.01, địch tập trung lực lượng, xe tăng và thiết giáp M113 bao vây các hướng. Để bảo toàn lực lượng, đêm 31.01. Tiểu đoàn 2 cùng chỉ huy sở rút về Trà Quế, Tiểu đoàn 3 rút về xóm Chiêu. AHLLVT Đinh Văn Minh, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 2 – Thị đội Hội An kể:“Từ 8 giờ sáng ngày 01.2.1968 bọn Nam Triều Tiên đã tiến công xóm Chiêu, chúng tôi quần đánh với chúng đến xế chiều, vũ khí cạn, chúng tôi chờ chúng vào thật gần mới diệt để thu vũ khí. 3 giờ chiều chúng giương cờ hồng thấp tự xin hạ trực thăng xuống lấy xác, chúng tôi cho phép.Tối đó rút về Cẩm Thanh”. Cũng trong sáng sớm ngày 31.01 lực lượng đấu tranh chính trị gần 12 nghìn người từ các xã Duy Nghĩa, Duy Hải, Duy Vinh, Bình Dương, Bình Giang… đã ồ ạt vượt sông Thu Bồn để phối hợp với cánh quân phía Bắc từ Trà Quế – Cẩm An, Cẩm Hà, Cẩm Châu… tiến thẳng vào Hội Anđể cùng với lực lượng vũ trang giành quyền làm chủ. Bà Trần Thị Điềm kể: “Ghe thuyền qua sông Thu Bồn nhiều như chuồn chuồn. Nhưng bọn địch trong nội thị Hội An đã làm chủ tình hình nên đàn áp dân biểu tình rất dữ. Cánh quân của tôi vào Cẩm Nam bị địch quét đại liên nên chết, bị thương nhiều, phải rút.Các mũi khác cũng tà”.

Tại thị xã Tam Kỳ do thấy chiến sự đã xảy ra ở nhiều nơi nên quân địch khẩn trương đối phó, ta tiếp cận lại các mục tiêu hết sức khó khăn. Dẫu vậy rạng ngày 01.2.1968, Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 72, 74 đã đồng loạt tấn công vào khu vực tỉnh đường. Tiểu đoàn 74, đội đánh tăng ở phía Đông đánh chiếm sân bay trực thăng, bãi xe cơ giới. Tiểu đoàn 70 từ phía Bắc đánh vào khu vực tỉnh đường và nhà lao Tam Kỳ. Sau những giờ phút chiến đấu gay go, quyết liệt, mũi thọc sâu của trung đội trưởng Trần Kim Chước đã chiếm dinh tỉnh trưởng, cắm cờ Mặt trận. Quân địch ở Tam Kỳ với sự chi viện của trực thăng Mỹ, có xe tăng tăng, thiết giáp yểm trợ đã chống trả quyết liệt. Ông Lê Hải Lý kể: “Trong tỉnh đường vẫn còn một lô cốt chỉ huy (nay vẫn giữ lại trong khuôn viên Ủy ban nhân dân tỉnh) với 2 khẩu đại liên bắn trả dữ dội. Sáng ra tiểu đoàn cộng hòa từ phía Đông đánh lên, bọn bảo an từ nhà lao Quảng Tín đánh sang. Chúng tôi đánh trả suốt buổi sáng ngày 01.2 rồi được lệnh rút ra chiến đấu ở vòng ngoài. Nhưng trung đội thọc sâu của đồng chí Trần Kim Chước bị bao vây trong tỉnh đường vẫn chiến đấu. Đồng chí gọi điện thoại ra báo cáo hết đạn phải lấy súng địch đánh địch, rồi đồng chí lại báo địch ném lựu đạn cay, sau đó tôi không nhận được thông tin gì nữa”. Người lính già kể xong, mắt ứa lệ. Liên đội đặc công V16 trong tối ngày 01.2 cũng đã chiếm USOM, USAID, chiếm sở chỉ huy trung đoàn 6 ngụy dưới ga Tam Kỳ. Cuộc chiến bi tráng sáng hôm sau được ông Đoàn Văn Danh, nguyên Chính trị viên phó cho biết: “Đêm đó chúng tôi đánh khá tốt, đồng chí Bảng cắm cờ lên sở chỉ huy trung đoàn 6 ngụy. 8 giờ sáng thì địch phản kích mạnh, chúng tôi dựa vào công sự, chiến hào đã chiếm chống trả, ta với địch đánh xà quần kiểu cài răng lược. Đến trưa thì đồng chí Vĩnh, Liên trưởng đội trưởng tổ chức rút.Chúng tôi hy sinh khá nhiều”.

Hòa với tiếng súng tấn công, quần chúng ở các huyện Tiên Phước, Quế Sơn, Nam Tam Kỳ… cũng rầm rập kéo về huyện lỵ làm cho quân địch nhiều nơi hoảng sợ. Tuy nhiên khi các mũi tiến công quân sự đã lắng xuống, địch có điều kiện quay lại đối phó, hàng chục người bị bắn chết; số bị thương hoặc bị bắt giam rất nhiều. Ở tỉnh lỵ Tam Kỳ các mũi đấu tranh của quần chúng từ nhiều hướng tiến vào nội thị đều bị địch chặn lại ở vùng ven. Đặc biệt đoàn quân đấu tranh chính trị các xã Kỳ Trà, Kỳ Yên… (nay đã nằm trong lòng hồ Phú Ninh) xuống đến địa phận xã Tam Xuân 1 hiện nay đã bị trực thăng Mỹ từ Chu Lai bay ra đàn áp khốc liệt. Chúng xả đại liên vào những người dân không tấc sắt đang tìm cách chạy thoát thân. Trong cuộc thảm sát này, rất nhiều người đã bị bắn chết.

Năm mươi năm nhìn lại, các nhà nghiên cứu trong nước và cả người Mỹ vẫn thừa nhận cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã làm thay đổi hẳn cục diện cuộc chiến. Với rất nhiều cán bộ, cựu chiến binh và người dân Quảng, đó là một sự kiện phi thường. Họ đã sống trong một thời khắc mà tinh thần tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, sự cảm vô song, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh đã thể hiện đến cao độ. Dẫu ta cũng chịu tổn thất rất lớn, nhưng “Không có Xuân Mậu Thân1968 thì không có Hiệp định Pari năm 1973 và không có Đại thắng Mùa xuân 1975”, nhiều vị lão thành cách mạng mà chúng tôi gặp đều khẳng định như vậy.

H.V