Khúc tráng ca ở vùng đông Duy Xuyên

Trong ký ức bà Trần Thị Điềm, khí thế của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân – 1968 ở vùng Đông Duy Xuyên như vẫn còn tươi rói. Đó là cảnh ghe thuyền nườm nượp chở bộ đội, cán bộ vượt sông Thu Bồn qua Hội An ém quân để đánh vào tỉnh lỵ, là cảnh quần chúng gan lỳ tiến lên dưới làn đạn dày đặt của kẻ thù, là hình ảnh người Bí thư xã Xuyên Thọ – nay là Duy Nghĩa dẫn đầu đoàn người, khi ngã xuống vẫn còn hô “Tiến lên, Tiến lên”.

Bà Trần Thị Điềm năm nay đã tròn 90 tuổi, sống một mình trong căn nhà nhỏ ở thôn Sơn Viên, xã Duy Nghĩa. Các đồng chí lãnh đạo xã bảo người địa phương tham gia sự kiện Xuân 1968 vẫn còn một số nhưng thuộc thành phần lãnh đạo và minh mẫn nhất vẫn là bà Điềm. Quả thật dù đã ở tuổi 90 nhưng những câu chuyện thời chiến bà kể vẫn đầy hình ảnh, sống động như vừa mới xảy ra. Ngày ấy, vùng đất cát này dân rất nghèo nhưng kiên trung cách mạng. Bà Điềm từ sau 1954 đã làm liên lạc cho cán bộ ở lại trụ bám hoạt động ở vùng Đông. Qua những năm đen tối đến 1964, phong trào Đồng Khởi đã bùng lên ở vùng Đông. Dân Duy Nghĩa với súng bẹ dừa vẫn giành được chính quyền. Bà Trần Thị Điềm được cử làm chủ tịch Hội phụ nữ xã. Phong trào lên mạnh thì Mỹ đổ quân. Nghe tin lính Mỹ từ Đà Nẵng vào đóng bên Cửa Đại, dân tình có phần xôn xao; một số người nghĩ mai đây bom đạn mù trời biết sống chết thế nào, rủ nhau làm thịt bò trâu ăn. Cán bộ phải làm công tác tư tưởng, ổn định tình hình. Rồi xe tăng, thiết giáp Mỹ cũng càn đến Duy Nghĩa, xích xe chà nghiến hết khoai đậu, lúa má. Ban đầu cũng sợ, nhưng chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn bọn chúng mặc sức tàn phá quê hương, ta tổ chức phụ nữ đấu tranh. Mỗi lần có xe Mỹ đi càn, làng trên xóm dưới gõ mõ báo động, phụ nữ, người già ùa ra vây lấy xe giặc, la ó phản đối quyết liệt nên chúng cũng chịu lùi. Ở xã Duy Nghĩa này hồi ấy nhiều tấm gương đấu tranh chính trị rất dũng cảm như bà Phạm Thị Hiếu, Ngô Thị Hồng, Nguyễn Thị Chín… Bà Điềm vẫn còn khắc sâu hình ảnh can trường của bà Trần Thị Nam. “Hôm ấy quân Mỹ càn ba mũi. Mũi từ Bàu Bính xã Bình Dương, Thăng Bình ra, mũi từ chợ Mới, một mũi từ hạm đội ngoài biển vào. Xe tăng thiết giáp bò lúc nhúc, nghe tiếng mõ báo động dồn dập, bà Nam đang nấu cơm liền chạy ra nhập đoàn đấu tranh, tay vẫn còn cầm chiếc đũa bếp. Thấy vẻ hung hăng của một tên lính Mỹ, bà vung đũa bếp đập lên đầu nó, tên lính tức giận bắn chết bà tại chỗ”. Những cuộc đấu tranh chính trị trực diện và sinh tử với kẻ thù đã tôi luyện tinh thần người dân Duy Nghĩa nói riêng, người dân vùng Đông Duy Xuyên, Thăng Bình nói chung. Đấy là cuộc tập dượt cho cuộc đấu tranh tổng lực Mậu Thân sau này.

Quãng sông Thu Bồn tại Duy Nghĩa, nơi xuất phát các đoàn quân trong Xuân Mậu Thân 1968

      Chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân – 1968, cả vùng Đông Duy Xuyên khẩn trương, hối hả. Theo phân công của trên, kết hợp với tấn công quân sự, đồng bào các xã vùng Đông Duy Xuyên, Thăng Bình sẽ kéo qua Hội An giành quyền làm chủ. Không khí tất bật ấy bà Điềm còn nhớ rất rõ. Đàn ông lo việc sửa chữa lại ghe thuyền, đi mua tre ở Duy Vinh, Cẩm Thanh… về đan thêm ghe mới, xảm trét dầu rái rồi cất giấu trong lùm tre, tán cây chờ ngày chở bộ đội, cán bộ và nhân dân vượt sông Thu Bồn. Đội quân đấu tranh chính trị cũng được tổ chức thành các tiểu đội, trung đội, đại đội rất chặt chẽ, cán bộ xã được phân công phụ trách các mũi đấu tranh của các hội đoàn thể nông dân, phụ nữ, thanh niên. Nông dân còn tham gia dân công, lên vùng giáp ranh ở khu tây vận chuyển vũ khí về lót sẵn cho bộ đội. Duy Nghĩa gánh thêm trách nhiệm mua gạo về chôn giấu sẵn ngoài bãi cát để nuôi bộ đội chủ lực; chuẩn bị nơi tiếp đón, chăm sóc thương binh từ mặt trận Hội An đưa về, nên nhiều hầm hào, nhà dân trở thành trạm phẫu; Hội phụ nữ xã đi vận động các mẹ chị chuẩn bị đường, sữa, hột gà… để bồi dưỡng các ca thương. Thậm chí xã còn chuẩn bị một số quan tài để lo công tác tử sĩ. Gần đến ngày khởi sự, Duy Nghĩa còn lo chuẩn bị bến bãi, cắt bẹ chuối rải qua các bãi dừa nước thành lộ tiêu để bộ đội, nhân dân theo dấu biết đường xuống ghe thuyền… Cả một núi công việc phải lo liệu, và diễn ra tất bật nhưng vẫn rất lặng lẽ, bí mật khiến quân địch không hề hay biết.

Tối ngày 28 tháng 01 năm 1968, tức ngày 29 tháng Chạp âm lịch, cả vùng Đông Duy Xuyên, Thăng Bình rùng rùng chuyển động. Dân từ các xã Bình Dương, Bình Giang kéo ra. Dân Duy Nghĩa, Duy Phước… cũng tập họp về, mang theo cả ghe thuyền. Tờ mờ sáng mùng một Tết Mậu Thân, cánh quân dấu tranh chính trị từ Duy Nghĩa vượt sông Thu Bồn: “Ghe thuyền nhiều như chuồn chuồn, bơi kín mặt sông” – bà Điềm nhớ lại. Tuy nhiên khi đoàn quânvượt sông thì địch phản ứng mạnh. Đòn tiến công quân sự của Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 vào Hội An không đủ sức đè bẹp quân địch nên chúng củng cố lại và phản kích. Tại Cẩm Nam, bọn biệt kích Tây Hồ quét đại liên sát mặt sông. Thế nhưng mọi người vẫn không nao núng. Bà Điềm còn nhớ cảnh đồng chí Ca, Bí thư Xuyên Thọ (tức Duy Nghĩa bây giờ) bước lên bờ dẫn đầu đoàn người, miệng hô vang: “Tiến lên, tiến lên”. Được một đoạn, ông trúng đạn ngã xuống, cậu cần vụ tên Hải cũng ngã theo. Đến lượt bà Điềm cũng bị thương. Mọi người định khiêng bà xuống ghe nhưng bà bảo cứ để mình nằm yên đấy, rồi lăn xuống một cái hầm dã chiến nấp tạm. Trời sáng rõ trực thăng Mỹ bắt đầu quần lượn bắn vào ghe thuyền trên sông. Ghe chìm, người chết, người bị thương, nhưng ta vẫn bình tĩnh tổ chức cho nhân dân rút lui và đưa người bị thương trở lại Duy Nghĩa cứu chữa. Đến gần tối, bà Điềm cũng được đưa trở về. Duy Nghĩa lúc này thực sự trở thành hậu phương vững chắc. Bộ đội, cán bộ bị thương trên chiến trường Hội An và các nơi khác lần lượt được đưa về Duy Nghĩa cứu chữa trước khi chuyển lên căn cứ ở tây Duy Xuyên.

Sau Mậu Thân 1968, bà Trần Thị Điềm được rút lên huyện, những chuyến công tác lên xuống giữa Đông và Tây Duy Xuyên đầy nguy hiểm, bà bảo mình sống được qua chiến tranh là “hạt gạo ở trên sàng”. Nhớ lại thời đạn bom khốc liệt, bà Điềm không thôi thương nhớ những đồng đội, đồng bào đã ngã xuống trong mùa xuân 1968 với khí thế Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Vùng Đông Duy Xuyên, Thăng Bình đang phơi phới vận hội mới. Bà Điềm vui trước cảnh vùng cát khô cằn giờ bắt đầu nở hoa tươi thắm.

D.H