Khởi sắc từ quê hương tơ lụa…

Mã Châu con gái mỹ miều

 Sớm mai dệt lụa, buổi chiều ươm tơ

Lần theo câu ca dao cổ, chúng tôi về huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, vùng đất nổi danh với nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa và thường được gọi với cái tên: miền tơ lụa. Sách “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII từng viết, nơi đây “đàn ông trồng dâu, đàn bà dệt lụa”, các mặt hàng như lanh, sa nhiễu, đũi, the… các sản phẩm tơ lụa của các làng Mã Châu, Đông Yên  đã theo chân các thương thuyền ngoại quốc cập cảng Hội An đi khắp vùng biển Đông. Làng Đông Yên, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam chính là nơi diễn ra câu chuyện tình của bà Đoàn Quý Phi với thế tử Nguyễn Phúc Lan, vị chúa đời thứ ba ở xứ Đàng Trong.

Khi cô thôn nữ hái dâu cất lên tiếng hát trong đêm trăng thanh cũng là khi chúa Nguyễn Phúc Lan thấy tim mình rung động, thế là thôn nữ họ Đoàn trở thành Quý phi. Bà Đoàn Quý Phi – Hiếu Chiêu Hoàng Hậu đã mang nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa của xứ Quảng truyền lại cho muôn dân và sau này được mệnh danh là “Bà Chúa tàm tang”, vì thế nghề tằm tang của người Việt cũng theo đó mà phát triển hưng thịnh. Qua biến thiên của lịch sử, nghề tằm tang ở xứ Quảng cũng trải bao bể dâu.

Sau ngày đất nước thống nhất, nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa đã góp phần quan trọng vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định cuộc sống với sự tham gia của hàng chục ngàn hộ gia đình và diện tích trồng dâu khoảng 950ha. Đến những năm 90 của thế kỷ trước, khi thực hiện việc chia đất cho hộ gia đình, những “biển dâu” xanh đã bị chia nhỏ, nhường chỗ cho các loại cây trồng khác. Cùng với đó, thu nhập của người dân từ nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa bấp bênh, khiến cho nhiều làng nghề rơi vào quên lãng.

Ông Nguyễn Nhất Tuấn ở thôn Chiêm Sơn, xã Duy Trinh là người theo nghề trồng dâu, nuôi tằm, kéo kén gần 30 năm. Những năm 90 của thế kỷ trước, lúc hưng thịnh, cơ sở của ông thường xuyên thu hút 30 lao động, sản xuất khoảng 3tạ kén/ ngày. Ngày ấy, ông tích cóp 5 cây vàng để đầu tư một máy kéo tơ – 200 mối, đó là cả một gia sản… Thế mà, giờ đây, tất cả đều phải tháo bỏ, chất đống ở một góc xưởng.

Tiếc nuối những năm tháng vàng son của làng nghề, ông Tuấn cố giữ lại tất cả, từ những chiếc bánh đà quay tơ hàng chục năm tuổi đến những chiếc lò kéo kén thủ công hay những nong nuôi tằm, lấy kén. Tất cả vừa gợi nhớ về nghề và cũng như nhắc nhở ông phải tiếp tục lo toan cho hàng chục người đã từng cùng ông theo đuổi nghề tằm tang, nay chuyển qua tìm kế mưu sinh bằng những ngành nghề thủ công khác.

Làng ươm tơ dệt lụa Mã Châu, huyện Duy Xuyên lúc hưng thịnh có bãi dâu hàng trăm héc-ta với hơn 4.000 khung dệt hoạt động suốt ngày đêm. Thế nhưng, trải qua khá nhiều thăng trầm, diện tích trồng dâu nay chỉ còn khoảng 2 héc-ta với 10 người theo nghề ươm tơ, dệt lụa. Cả làng nghề, nay chỉ còn một doanh nghiệp theo đuổi nghề truyền thống. Hầu hết, người lao động đều bỏ nghề xưa để chuyển qua làm dệt hoặc may công nghiệp.

Quyết không để nghề rơi vào quên lãng, hai cha con ông Trần Hữu Phương đã tìm hướng đi mới cho làng nghề bằng việc quay lại sản xuất các mặt hàng lụa truyền thống hoàn toàn bằng thủ công theo một quy trình khép kín, các bí quyết về nhuộm màu từ các chất liệu tự nhiên hay kỹ thuật dệt 100% sợi tơ tằm và hoa văn trên các khổ lụa truyền thống 90cm đến các khổ lụa lớn từ 1,2m đến 1,6m đã tạo nên sự riêng biệt, độc đáo của lụa Mã Châu.

Hiện nay, doanh nghiệp của ông Phương có năng lực sản xuất khoảng 200 nghìn mét lụa tơ tằm/ năm, nhưng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn nguyên liệu tại địa phương. Vì thế, ông Phương phải nhập thêm nguồn tơ từ các doanh nghiệp ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Mặt khác, hầu hết người lao động lành nghề đều đã lớn tuổi, người kế cận gần như không có, vì thế tương lai làng nghề là khoảng trống mênh mông của sự kế thừa, tiếp nối.

Để khôi phục, duy trì và phát triển bền vững nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, tỉnh Quảng Nam đã nghiên cứu bổ sung chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình đầu tư vào lĩnh vực trồng dâu, nuôi tằm. Theo đó, khuyến khích, doanh nghiệp và người dân phát triển các mặt hàng tơ lụa thủ công truyền thống, đồng thời, học tập các mô hình trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa theo hướng công nghiệp và hiện đại như ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Cùng với đó là việc triển khai việc đăng ký thương hiệu cho các sản phẩm lụa của Duy Xuyên nói riêng, Quảng Nam nói chung. Hiện nay, tỉnh Quảng Nam đang nghiên cứu chính sách ưu đãi và tạo điều kiện về đất đai, vay vốn cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực trồng dâu, nuôi tằm.

Khi biết chủ trương khôi phục nghề tằm tang của huyện Duy Xuyên và tỉnh Quảng Nam, ông Phan Ngọc Anh, chủ doanh nghiệp sản xuất gạch ở xã Duy Thu đã sẵn sàng bỏ ra 20 tỷ đồng mua lại đất đồi của người dân để sang ủi mặt bằng, chuẩn bị khoảng 20ha đất trồng dâu. Ông Anh cho biết, doanh nghiệp của ông hiện nay có khoảng 600 lao động sản xuất gạch, khi người lao động không thể làm công việc nặng nhọc, ông sẽ chuyển họ sang nghề trồng dâu và nuôi tằm. Việc khôi phục, duy trì và phát triển bền vững nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa không chỉ trông chờ vào những người yêu nghề, những người tâm huyết với sự sống còn của làng nghề hay sự chung tay của doanh nghiệp mà cần sự vào cuộc của các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện. Ở đó, tỉnh Quảng Nam cần có bước đi nhanh chóng và quyết liệt đó là quy hoạch lại vùng trồng dâu nguyên liệu theo hướng tích tụ, tập trung đất đai ở các vùng ven sông hay vùng đồi núi thích hợp; nghiên cứu, tuyển chọn các giống dâu, giống tằm cho năng suất, chất lượng kén cao; đẩy mạnh mô hình liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa người dân và doanh nghiệp; tiến tới xây dựng các mô hình sản xuất quy mô lớn, hiện đại, hướng đến thị trường xuất khẩu.

Về với làng nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa Đông Yên, Mã Châu, huyện Duy Xuyên, ta tận mắt chứng kiến những người thợ tuổi ngoài 40, 50 cần cù, chăm chỉ níu giữ nghề, được nghe tiếng thoi đưa rộn ràng, thấy những bãi dâu xanh lác đác ven sông… Thắp một nén hương lên mộ Bà Chúa tàm tang mà mong về một ngày miền tơ lụa hưng thịnh.

 V.Q – K.Đ