Khí tiết sáng ngời của ba anh em nhà Nguyễn Lương

Trước năm 1945, gia đình cụ Nguyễn Lương Tri thuộc hạng ”thế gia” của làng An Mỹ, xã Tam An, nay là thôn An Mỹ 1, xã Tam An, huyện Phú Ninh. Cụ Tri vốn xuất thân từ Nho học, đã từng ra giữ chức Chánh tổng Chiên Đàn, nên các con của cụ có điều kiện ăn học thành tài.

Tuy làm đến chức quan tổng, nhưng ”cụ Chánh” được nhân dân Chiên Đàn nể trọng, nhất là tư chất thẳng thắn. Bởi thế, ba người con trai của cụ lớn lên không chỉ thông minh, học giỏi mà trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ nếp nhà, xả thân vì nghĩa lớn. Nguyễn Lương Ý, Nguyễn Lương Y và Nguyễn Lương Ái.

  1. Nguyễn Lương Ýlà con trai trưởng trong gia đình; sinh năm 1928, tại làng An Mỹ, xã Tam An. Ông là lớp thanh niên ”Tây học” đầu tiên của xã, là người thông minh, giỏi cả ”cầm, kỳ, thi, họa”. Ông theo nghề dạy học là chính, nhưng khá ”thành danh” ở các nghề ”tay trái”. Để phục vụ công tác cách mạng bí mật, Nguyễn Lương Ý có thể trổ tài vẽ tranh, làm thơ, viết khẩu hiệu thuận – nghịch.. để châm biếm, đả kích chính quyền bù nhìn thân Mỹ ở miền Nam.

Theo tư liệu của gia đình cung cấp, trước năm 1954, ông Nguyễn Lương Ý đã là một Đảng viên cộng sản và tích cực tham gia công tác cách mạng, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi Cách mạng tháng Tám (1945) nổ ra, ông còn đang học dở dang ở trường Trung học Pháp – Việt. Nguyễn Lương Ý bỏ học để về quê, tham gia công tác tuyên truyền của xã Mỹ Phước (tên gọi mới của xã Tam An). Từ một cán bộ tuyên truyền, cấp trên điều ông sang phụ trách ”Bình dân học vụ” và làm ủy viên – Ban Giáo dục của xã nhà. Khi cuộc kháng Pháp lần thứ 2 nổ ra (12/1946), Ủy ban Kháng chiến cơ cấu lại bộ máy chính quyền xã, ông Ý được phân công làm Trưởng ban ”Bình dân học vụ” và trực tiếp dạy học ở xã Tam An.

Qua thực tế công tác, lãnh đạo huyện, xã nhận ra tài năng ”thiên phú” của người cán bộ trẻ Lương Ý, khi ông chưa học hết bậc Trung học. Đầu năm 1948, dù công cuộc chống Pháp bước vào giai đoạn ác liệt, Ủy ban Kháng chiến vẫn tạo điều kiện để ông tiếp tục việc học. Ông Ý ra Huế, xin vào trường Trung học Khải Định để học tiếp chương trình và thi đỗ Tú tài (phần 1). Tấm bằng Tú tài lúc này mở ra nhiều cơ hội thăng tiến cho ông ở đất kinh kỳ, nhưng Nguyễn Lương Ý nhận thấy mình đang ”mắc nợ” với quê nhà (thuộc vùng tự do của ta). Tháng 10/1949, ông quyết định khăn gói về quê, vào Tam Kỳ xin trở lại nghề dạy học. Nhưng đi dạy chưa được bao lâu, tháng 6/1950 ông có giấy triệu tập của Liên Khu ủy V, điều ông vào Bình Định và giữ chức vụ Ủy viên – Ban Tu thư Học vụ, tham gia biên soạn sách Bình dân học vụ. Ngày 25.6.1951, Chi bộ Giáo dục của Liên khu V kết nạp Nguyễn Lương Ý vào Đảng Cộng sản. Cuối năm 1951, ông lại được chuyển về Quảng Nam, vừa tham gia dạy tiểu học, vừa đảm nhận vai trò Ban Tu thư của Ty Giáo dục Quảng Nam.

Tháng 7.1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, người Mỹ đã thay chân Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam. Đất nước chia cắt hai miền Nam – Bắc. Nguyễn Lương Ý tạm thời gác lại công việc dạy học. Ông trở lại quê nhà, cùng vận động bà con xuống đường đấu tranh, đòi chính quyền miền Nam ”Tổ chức Tổng tuyển cử”; đòi ”Nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp ước Giơ-ne-vơ”. Phong trào đấu tranh của quần chúng nổ ra rầm rộ ở Miếu Trắng, Cây Cốc cuối tháng 9/1954, nhưng bị ngụy quyền dìm trong biển máu. Những ”thủ lĩnh” của quần chúng biểu tình hầu hết bị bắt và bị tra tấn dã man. Trong số bị bắt có Nguyễn Lương Ý, nhưng bọn chúng tách ông ra khỏi những đồng chí của mình, đưa ra giam kín ở lao xá Hội An. Hơn năm tháng trong tù, bọn cai tù và cảnh sát tìm đủ mọi cách để thu phục ông, nhưng đành thất bại. Tháng 11/1956, chúng buộc phải để Lương Ý ra khỏi nhà lao Hội An.

Ra tù, ông Ý về quê chưa được mấy hôm thì bọn Quốc dân đảng ở địa phương đến vận động ông tham gia vào ”Hội đồng Hương chính”. Thấy khó thoát khỏi âm mưu của bọn Quốc dân đảng, ông tìm đường ”thoát hiểm” bằng cách xin ra Huế học thi Tú tài (phần 2). Bản thân ông lúc ấy không hề biết rằng, ở nhà lao Hội An đang diễn ra cuộc đấu tranh tuyệt thực, chống ”suy tôn” Ngô Đình Diệm. Tất nhiên, tù nhân bị bọn cai tù đàn áp đẫm máu, nhưng truy tìm kẻ xúi giục chúng lại gọi đích danh Nguyễn Lương Ý!

Bởi vậy kế hoạch ra Huế học thi bất thành, tháng 4/1957 ông bị bọn mật thám đến nhà bắt trở lại. Lần này, chúng đưa Lương Ý vào nhốt ở lao xá Tam Kỳ để lấy cung, nhưng chúng chẳng tìm được lý do nào để buộc tội thầy giáo trẻ. Thấy không khai thác được gì, ngay trong đêm chúng cho cảnh sát ”hộ tống” Lương Ý ra ”Trại cãi huấn” của nhà lao Hội An (lần 2). Lần này, bọn cai tù tỏ ra vị nể ông trí thức, với ý đồ để ông có thời gian ”cải tà quy chính”. Nguyễn Lương Ý không muốn để mắc mưu bọn giặc lần nữa, ông ”di dưỡng tinh thần” bằng cách trổ tài vẽ tranh. Họa sĩ bất đắc dĩ nhưng ông Ý vẽ tranh khá đẹp ở cả hai loại: Tranh truyền thần và tranh phong cảnh. Vẽ xong, ông đem tặng bạn tù, còn lại số ít gói gém gửi về nhà. Hiện nay, trên bàn thờ của ngôi nhà chính (Tam An) dùng bức vẽ chân dung ông nội (cụ Nguyễn Lương Tri) làm ảnh thờ; và tại nhà riêng bác sĩ Nguyễn Lương Việt (con trai) còn giữ hai bức tranh phong cảnh của cha mình.

Cuối năm 1957, ông Ý được trả tự do. Nguyễn Lương Ý liền ra Huế để tiếp tục học, thi Tú tài phần 2. Sau khi có bằng Tú tài hạng Bình, ông trở về quê nhà dạy học. Từ đầu năm 1962, thầy Ý vào nội ô Tam Kỳ, dạy ở nhiều trường trung học khác nhau. Thời gian đầu, thầy chỉ dạy ở trường bán công Nguyễn Dục, nhưng bởi danh tiếng ”thầy Ý” lan nhanh nên các trường trung học Trần Cao Vân, Đức Trí… đều mời thầy thỉnh giảng. Những năm 1963, 1964 ở Tam Kỳ, Hội học sinh sinh viên giải phóng được thành lập, phong trào tranh đấu phát triển mạnh mẽ. Ông Đỗ Thế Chấp, Bí thư Thị ủy Tam Kỳ trực tiếp kết nạp đảng cho thầy Ý và người trở thành ”chủ súy”, kết nối học sinh các trường.

Nhưng do tổ chức bị lộ. Vào buổi sáng, tháng 10/1965 thầy Ý vẫn đang lên lớp bình thường ở Trường Nguyễn Dục thì cảnh sát ập vào, bủa vây. Và cùng sáng hôm ấy, tại trường Trung học Trần Cao Vân đích thân tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Nghĩa đột ngột vào, ra lệnh tập trung toàn thể học sinh, giáo viên của nhà trường. Tay tỉnh trưởng giả bộ tuyên bố ”đến thăm”, và ra hiệu cho cảnh sát lùng bắt tất cả ”thủ lĩnh học sinh”. Một trung đội cảnh sát khác, dùng xe GMC tiến thẳng xuống Trường Nguyễn Dục, bắt khẩn cấp giáo sư Nguyễn Lương Ý.

Chúng giải cả thầy và trò về tập trung trước sân của ”Tiểu khu Quảng Tín”. Viên tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Nghĩa đích thân ra ”giáo huấn” đám đông thầy trò ”làm loạn”. Trung tá Nghĩa hất hàm, chỉ tay về phía thầy Ý và hỏi: ”Các ông có biết rõ việc người Mỹ đến đây là để giúp chúng ta chống cộng không? Tại sao hạng trí thức như thế này, lại không hiểu và có ý đồ mưu phản?”

Thầy Ý từ tốn đáp: ” Thưa Trung tá! Việc phản đối quân xâm lược Mỹ, không chỉ có giới trí thức mà thực tế là tất cả nhân dân miền Nam. Mọi người đều biết rõ sự thật ghê tởm và tàn bạo của quân viễn chinh Mỹ…”. Chúng tách thầy Ý ra khỏi đám học sinh bị bắt, tống vào biệt giam ở nhà lao Quảng Tín. Hơn một tháng sau, bọn chúng lại áp giải thầy ra Đà Nẵng, với danh nghĩa là ”ra hầu tòa Thượng thẩm”. Nhưng thực chất, chẳng có phiên tòa nào cả mà chỉ đợi bắt tiếp người em Nguyễn Lương Y.

  1. Nguyễn Lương Y là người em kế của Nguyễn Lương Ý. Ông sinh năm 1935, tại làng An Mỹ. Về tài năng, thì cả hai anh em đều ”mười phân vẹn mười”, nhưng con đường học tập của người em thuận lợi hơn, hai lần được vinh danh thủ khoa tốt nghiệp.

Lớn lên trong giai đoạn ”kháng chiến chín năm” (1946 – 1954), Nguyễn Lương Y là một học sinh xuất sắc của Trường Trung học Tam Kỳ 2 (thuộc xã Tam Thái, huyện Phú Ninh bây giờ). Sau ngày miền Nam bị chia cắt, ông vẫn tiếp tục học và thi đỗ Tú tài 2 (1959). Sau khi có bằng Tú tài, Nguyễn Lương Y thi vào Trường Quốc gia Nông – Lâm – Súc ở Lâm Đồng. Sau ba năm học tập, ông tốt nghiệp thủ khoa với cấp bằng kỹ sư Canh nông.

Theo tập hồi ký ” Năm tháng dâng người” của Lê Công Cơ (Đà Nẵng) thì việc thi đỗ thủ khoa của ông Y lẽ ra đã làm thay đổi ”thân phận” của một sinh viên tỉnh lẻ. Vì có vị linh mục rất thế lực ở Lâm Đồng dụ dỗ Nguyễn Lương Y cưới con gái nuôi của ông ta và bảo lãnh cho Nguyễn Lương Y sang Pháp học, bảo vệ tiến sĩ. Nhưng ông từ chối và xin về quê làm việc và tích cực ”xuống đường tranh đấu” cùng học sinh – sinh viên Đà Nẵng, chống Mỹ xâm lược.

Đầu năm 1964, ông Y bị lệnh ”Tổng động viên” của chính quyền Sài Gòn. Vì có cấp bằng kỹ sư, nên Nguyễn Lương Y được chuyển thẳng vào học Trường Sĩ quan Thủ Đức (Nha Trang). Sau 18 tháng học tập, ông Y lại đỗ tốt nghiệp thủ khoa của trường Sĩ quan trù bị. Lần nữa, danh tiếng của ông Y đã vang đến tai của tướng Tư lệnh Vùng I- Chiến thuật, ở Đà Nẵng. Trung tướng Nguyễn Chánh Thi ra lệnh điều thiếu úy Nguyễn Lương Y về làm cố vấn riêng cho mình. Thế nhưng, ông tướng Tư lệnh Vùng I chẳng thể ngờ rằng, người sĩ quan tham mưu, cố vấn cho mình lại là một ”tay Việt cộng thứ thiệt”. Lợi dụng thế hợp pháp, nhiều lần ông Y đưa cán bộ ”cộm cán” Hà Kỳ Ngộ – Đặc khu ủy Quảng Đà, vào ”thăm” sở Chỉ huy Sư đoàn. Ông Y còn dùng xe Jeep, cắm cờ hiệu ”Tư lệnh Vùng I” đưa ông Hà Kỳ Ngộ vào tận sân bay Đà Nẵng và sân bay quân sự Nước Mặn, để vẽ bản đồ chi tiết. Nhờ những tấm bản đồ ”thực địa” này đã giúp nhiều lần, đội Đặc công của quân ta đột kích vào sân bay, phá hủy hàng loạt máy bay Mỹ.

Mọi công việc đang thuận buồm xuôi gió, bất ngờ Thiếu úy Nguyễn Lương Y bị địch đọc lệnh bắt khẩn cấp. Không kịp liên lạc ra ngoài, ngay trong đêm tháng 12/1965, ông bị tống giam vào khu cách ly của Bộ Tư lệnh.

Có lẽ, chính Ban Tham mưu của Nguyễn Chánh Thi cũng bị ”choáng” trước tin động trời của bọn mật vụ. Có ai dè ”sĩ quan cố vấn của ngài Tư lệnh” lại là Việt cộng!  Do vậy, cả bọn quan thầy không ai dám đưa ông Y ra thẩm vấn, xét xử.  Chỉ hơn một tuần giam giữ, chúng áp tải người anh Nguyễn Lương Ý từ trại giam Hội An ra để thực hiện ý đồ hèn hạ nhất. Một buổi sáng sớm đầu năm 1966, bọn chúng bí mật đưa hai anh em Nguyễn Lương Y, Nguyễn Lương Ý lên khu vực Nam Ô (gần chân đèo Hải Vân) để thủ tiêu! Sau khi giết hại hai người, bọn chúng báo tin về gia đình: ”Giáo sư Nguyễn Lương Ý và Thiếu úy Nguyễn Lương Y trên đường ra Huế, bị Việt cộng phục kích, tử nạn” (!)

  1. Nguyễn Lương Áilà người em út; sinh năm 1937 cũng tại quê Tam An. Ông Ái được kế thừa trọn vẹn nếp nhà và tài năng học tập của hai anh. Năm 1960, ông mới đỗ Tú tài, nhưng Trưởng ty Canh nông Quảng Ngãi đã biết tiếng về trí tuệ tuyệt vời của ông. Không cần qua đào tạo chuyên ngành, nhưng Ty Canh nông vẫn đón nhận về làm công vụ Điền địa ở Ty. Năm 1964, Nguyễn Lương Ái bị lệnh ”Tổng động viên” của chính quyền ngụy, buộc ông phải vào lính. Sau thời gian ngắn, ông cũng được đưa vào trường Sĩ quan Thủ Đức cùng với người anh Nguyễn Lương Y. Tốt nghiệp khóa trù bị, ông Ái được điều về làm sĩ quan Phòng tác chiến ở Long Khánh (Đồng Nai)…

Thực tế, Nguyễn Lương Ái chưa có ngày nào tham gia hoạt động cách mạng như hai người anh. Nhưng có lẽ bọn mật vụ cảm thấy ”bất an” về tài năng và quan điểm ”bài Mỹ” của dòng họ Nguyễn Lương này. Sau khi giết hại hai người anh ở Đà Nẵng, bọn chúng cố lần tìm người em út để ”nhổ cỏ tận gốc”. Khoảng giữa năm 1967, bọn mật vụ biết được Nguyễn Lương Ái đang làm việc tại Phòng tác chiến Trung đoàn ở Đồng Nai. Dù ông Ái là sĩ quan đương nhiệm của quân đội Viêt Nam cộng hòa nhưng an ninh quân đội ngụy vẫn bí mật đưa Nguyễn Lương Ái vào khu rừng Long Khánh để thủ tiêu! Ông ra đi khi mới tròn 30 tuổi (1937- 1967).

Sự hy sinh bất ngờ và đau đớn của ba anh em nhà Nguyễn Lương, không ít người cho rằng đó là định mệnh của những bậc tài hoa. Thực ra họ là những trí thức chân chính, dám từ bỏ cuộc sống êm ấm, từ bỏ vinh hoa phú quý, dấn thân vào chốn hiểm nguy vì tiếng gọi của đại nghĩa cứu nước và sự mách bảo của lương tri kẻ sĩ. Cả ba người đều được Nhà nước ta công nhận liệt sĩ, chỉ vài năm sau ngày kết thúc chiến tranh Cuộc đời họ là những cánh hoa hướng dương bất tử. …

N.P.T