“Hoa rừng” mãi ngát hương

Cách đây vừa tròn 50 năm (08.3.1969 – 08.3.2019), nhà văn Dương Thị Xuân Quý – tác giả tập truyện ký “Hoa rừng”, “Nhật ký chiến trường” đã vĩnh viễn nằm lại với “đất lành Duy Xuyên” trong một trận chống càn không ngang sức. Chị là một trong những nhà văn đã anh dũng hy sinh tại đất Quảng Nam trong những năm chống Mỹ, cứu nước…

Nhà văn Hồ Duy Lệ kể chuyện với các em học sinh xã Duy Thành về nhà văn Dương Thị Xuân Quý

1. Trong các tác phẩm của chị, người phụ nữ Việt Nam là nguồn cảm hứng vô tận. Những người phụ nữ ấy ở hậu phương hay tiền tuyến vẫn luôn khẳng định bản thân, khẳng định vị trí trong xã hội. Điều đó thể hiện qua các tác phẩm của chị như “Đất cằn”, “Chỗ đứng”, “Chuyện cô Duyên”, “Không coi thường việc nhỏ”… Nhân vật chính trong tác phẩm của chị vẫn là người phụ nữ mới với cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng giới, dù trong hoàn cảnh khó khăn nào họ cũng vượt lên để khẳng định mình.

Vào chiến trường, chị luôn ý thức về sứ mệnh của người cầm bút, luôn tranh thủ từng giờ, từng phút say sưa sáng tác. Vốn mảnh mai, nhỏ bé, nhưng chị khoác trên vai chiếc ba lô nặng hơn 30kg, thường xuyên đi đến những nơi nguy hiểm nhất. Giữa những đợt gùi cõng, phát rẫy, hay giữa những trận bom B52 rải thảm và sự hành hạ của những trận đói và sốt rét… chị vẫn cố gắng viết. Truyện ngắn “Hoa rừng” và các bút ký như “Tiếng hát trong hang đá”, “Gương mặt thách thức”, “Niềm vui thầm lặng” là những tác phẩm được chị viết trong hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo của chiến trường. Cô giao liên Phước trong “Hoa rừng” là một cô gái kiên cường, cứng cỏi vượt qua bao gian nguy dẫn đường cho bộ đội đi về an toàn nhất. Soan – cô gái trong đội vận chuyển ở “Niềm vui thầm lặng”, có “Khuôn mặt bầu bầu, phúng phính, đôi má bồ quân, nước da trắng hồng” nhưng khi vào chiến trường “gương mặt gầy guộc, hai gò má nhô cao, cằm nhọn hoắt và một lớp da xanh mét, tái nhợt phủ lên” vẫn cõng “chiếc gùi tròn lẳn cao quá đầu” với quyết tâm: “Cõng thêm một ký gạo, gùi thêm một viên đạn là diệt thêm một quân thù”. Thím Tư, thím Thọ, chị Tam… là những phụ nữ kiên trung của làng cát Bình Dương, Thăng Bình trong “Gương mặt thách thức”, họ sản xuất, chăn nuôi, kiên trung bám làng bám đất để nuôi bộ đội, du kích: “…Họ chỉ có sắt thép vô địch của lòng yêu Tổ quốc, lòng yêu quý độc lập và tự do. Họ thách thức, họ bất chấp mọi thứ sắt thép hung bạo và hèn hạ của kẻ thù. Chỉ với một hạt lúa, củ khoai lấy từ lòng đất nóng bỏng đạn bom đem đóng góp cho cách mạng, họ đã khiến kẻ thù phải run sợ…”.

Trong “Tiếng hát trong hang đá”  hình ảnh các chiến sĩ ở một trạm đường dây, suốt ngày gùi cõng, đưa bộ đội, cán bộ hành quân, lo từng miếng ăn, giấc ngủ, đêm đến lại tổ chức văn nghệ để động viên những người ra trận. Đọc những trang viết của chị, hình ảnh người phụ nữ, và hiển hiện hình ảnh của chính chị. Bởi những chuyến đi gùi lương thực xuyên rừng núi, những khoảnh khắc bom đạn sát bên mình, những nhọc nhằn, thiếu thốn của một người phụ nữ thời chiến… được ghi lại thật chân thực đến không thể thật hơn được nữa. Bởi chị đã từng nếm trải, nên không cần tô vẽ, thì đã rất thực nhưng vô cùng trong sáng, cao đẹp, nên những tác phẩm đó chứa đựng những giá trị rất nhân văn cao cả.

2. Đọc tác phẩm và những trang nhật ký của nữ nhà văn này, ta càng hiểu thêm về những năm tháng “cả nước cùng đánh Mỹ”. Đó là những cuộc hành quân “Vượt bãi bom”, với những hình ảnh “…Những quãng rừng đỏ vì bom B52. Những quãng rừng xám, trụi lá trơ cành vì chất độc hóa học. Những quãng rừng đen, cây cháy thành than nhấp nhô chọc lên nền trời đầy mây…” (Hoa rừng). Đó là một cuộc sống ở chiến trường đầy ắp tình người, tình đồng chí. Chị tự hào và sung sướng, khi được trực tiếp chứng kiến, ghi lại cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc ở mảnh đất khu V kiên cường: “Thế đấy, mảnh đất mà mình đang sống nó giống hệt con người mình: vất vả, cực nhọc. Mình sung sướng có mặt ở đây đúng vào giai đoạn gay go quyết liệt nhất của cuộc chiến đấu. Mình sung sướng được chịu đựng và vượt qua tất cả gian khổ vì đã gặp một mảnh đất đồng điệu với tâm hồn mình”.

Chị vào chiến trường Quảng Nam ngày 14.6.1968, tham gia gùi gạo, đào hầm, chống những đợt càn quét của địch và ghi lại những năm tháng ác liệt nhất, hào hùng nhất của nhân dân Quảng Đà. Sống ở chiến trường ác liệt nhất khu V, chị viết cho con gái mới vừa 16 tháng tuổi: “Ly của mẹ! Mẹ báo một tin để con mừng nữa là ngày hôm nay mẹ bắt đầu làm người cán bộ của tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn khu V, chính thức là người lính của lực lượng Văn Nghệ Giải Phóng…”, “…Mẹ đã thầm hứa với con: Từ nay phải bắt đầu những trang viết. Phải có thật nhanh những sáng tác từ chuyến đi kỳ diệu này… mẹ sẽ vượt qua tất cả, sự vất vả, nỗi gian khổ, và những khó khăn… mẹ sẽ hết sức tranh thủ để có thể viết được ngay con nhé”. Nên chị “muốn làm việc gấp bội” “bù đắp cho con bằng sự làm việc của mẹ”, “Phải có thật nhanh những sáng tác” “hết sức tranh thủ” “để xứng đáng với sự hy sinh của con”.

3. Cuối tháng 12.1968, tại Hội nghị sáng tác văn nghệ khu V, tác phẩm “Hoa rừng” của chị được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá cao. Đó là một hội nghị thật đặc biệt, bởi “Cơm với mắm cái chưng nước loãng. Uống nước trắng… Mưa, phản lực gào rú. B57, B52 suốt”. Đội văn công bị trúng bom địch, hy sinh rất nhiều. Ngay sau hội nghị, có một đợt đi thực tế xuống đồng bằng, chị xin về chiến trường Quảng Đà.

Ngày 5.11.1968, trong thư gửi người bạn thân, nhà văn Dương Thị Xuân Quý đã kể về những ngày tháng ác liệt ở chiến trường Quảng Đà. Nghệ sĩ Trọng Định, anh Điền (Điện ảnh)… hy sinh. Dòng nhật ký viết ngày 15.12.1968 chị ghi: “Lạ thế, biết nguy hiểm nhưng vẫn sẵn sàng lao vào, dù có hy sinh…”. Và lá thư cuối cùng ngày 2.3.1969, gửi nhà văn Chu Cẩm Phong, đề tại Xuyên Trường, chị viết: “…may mắn tôi được có mặt, Xuyên Hòa kiên cường lắm; tôi bắt gặp nhiều điều rất xúc động, gặp nhiều nguy hiểm, nhưng vui kỳ lạ…”. Rồi chị đi Xuyên Phú… Những dòng nhật ký cuối cùng dừng ở ngày 3.3.1969. Và những dự định viết ký về Xuyên Phú, Xuyên Hòa, Xuyên Châu… chị không thể nào thực hiện được, bởi 5 ngày sau đó chị hy sinh…

Bia mộ bằng đá cẩm thạch khắc câu thơ của Bùi Minh Quốc tại xã Duy Thành – Duy Xuyên

Nơi tưởng niệm trong vườn nhà của anh Võ Bắc và chị Nguyễn Thị Thanh tại thôn Thi Thại, xã Duy Thành (Duy Xuyên) trên mộ chị luôn “có mùa xuân ở mãi”, bởi dù sống hay thác chị luôn được nhân dân che chở, thương yêu và đùm bọc, và bởi “Những bông hoa thường mọc xuyên lên từ khe đá khắc khổ, lẩn khuất thầm lặng dưới những gốc cây rễ nổi sù sì. Những bông hoa nom rất đỗi mảnh mai nhưng chẳng có bão mưa nào vùi dập nổi”.

                                                                       Q.H

 

Nhà văn Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19.4.1941 tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức yêu nước nổi tiếng. Năm 1965, khi đang là phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam, chị viết đơn tình nguyện xin được vào chiến trường miền Nam. Tháng 4.1968, chị gửi con gái 16 tháng tuổi Bùi Dương Hương Ly cho bà ngoại để chị lên đường vượt Trường Sơn. Dương Thị Xuân Quý để lại cho đời tác phẩm “Hoa rừng” “Nhật Ký chiến trường”. Chị được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2007.