Đồng cảm với một nhà thơ “Khóc vợ”

Xưa nay nhân loại, những người sống có tình nghĩa thủy chung, khóc tiễn người bạn

Tác giả Võ Quê

đời đi vào cõi vô cùng là chuyện thường tình. Đối với những nghệ sĩ, những nhà sáng tạo, nỗi đau buồn ấy không chỉ đọng lại thành giọt nước mắt, mà còn đầy ứ trong tâm hồn, thành niềm thương nỗi nhớ, âm ấm tro than rồi vụt cháy lên thành tâm thức sáng tạo để cho ra đời những sinh thể nghệ thuật có sức sống bền lâu. Chỉ giới hạn trong phạm vi văn học kháng chiến thôi, chúng ta đã có hai bức phù điêu dệt nên bởi nước mắt là Màu tím hoa sim của Hữu Loan và Bài thơ hạnh phúc của Bùi Minh Quốc. Hai sự ra đi không hề giống nhau, không liên quan đến nhau, nhưng nỗi đau ập xuống đè nặng tâm hồn người ở lại, lại rất giống nhau. Với Võ Quê, nỗi đau ấy không chỉ đến một lần, mà dai dẳng, triền miên đến bảy, tám năm trời, để rồi gom lại có đến 38 bài, in thành tập Em về trong giấc mơ anh (Nxb Hội Nhà văn, 2018).

Theo tác giả, đây là tập thơ và tản văn, nhưng có thể nói, đây là một cuộc “bứt phá” về mặt thể loại, nó vượt qua khỏi bức tường xám xịt và lạnh lẽo của lý thuyết thể loại, tự do bung phá và chỉ tuân thủ một hệ điều hành duy nhất là tư duy sáng tạo. Có 7 bài văn xuôi, nhưng không hẳn là tản văn, mà trong đó có cả hồi ức kỷ niệm, suy nghiệm liên tưởng, cảm xúc bất chợt, chen lẫn cả thơ (Rứa là)… dạt dào cảm xúc hoài cảm thâm trầm, đẹp và buồn, như những dòng chảy âm thanh của Cung Tiến trước đây “chờ nhau hoài cố nhân ơi/ mây buồn giăng kín muôn nơi…”. Có 31 bài thơ, nhưng có bài viết theo làn điệu ca Huế, thực chất là lời của một bài ca Huế (Tặng hiền thê khúc tương tư), hoặc chỉ là những bài thơ lai cảo tặng cho người con gái 16 tuổi từ năm 1969, sau này trở thành hiền thê của tác giả (Bài trăng tan, Bài trăng vỡ). Tình yêu của họ là một chuyện tình lãng mạn, chất chứa yêu thương như kiểu Love story, khởi đầu từ thuở chàng còn là học sinh trường Quốc Học, làm 16 bài thơ lục bát, tặng cho cô nữ sinh Đồng Khánh đang vừa tuổi trăng tròn, đến bốn mươi năm sau, họ đã là vợ chồng hơn ba mươi năm, đã trở thành ông bà nội của mấy đứa cháu, và cũng là lúc nàng bị cơn bệnh hiểm nghèo sắp rời dương thế, vẫn còn giữ/ nhớ/ thuộc được hai bài trong số 16 bài đó, nay chính chàng đọc lại tự thấy mình “ngô nghê một cách chân thành”:

Em cho ta về hư không

                        Áo sờn vai đãng tử lòng phiêu du

                              Ừ xa nhau xa mùa thu

                        Lá bay thành cũ sương mù trong khuya

                              Mắt em thuyền ngọc xuôi về

                        Trăng tan trăng vỡ ta tê điếng lòng

                              Chiều chiều ai hát ven sông

                        Lời ru nước mắt xót tình lãng nhân.

                                                           (Bài trăng vỡ)

Trưởng thành từ phong trào sinh viên tranh đấu chống chế độ Sài Gòn trước 1975, thơ Võ Quê không hay về câu chữ nhưng chân thành và nồng nàn về cảm xúc, sáng rõ về lý tưởng thẩm mỹ, thấm đẫm tư tưởng nhân văn trong quan niệm nghệ thuật về con người. Những bài thơ xuống đường của anh, một thời đã vẫy gọi, thúc giục bao thế hệ, và tác giả của nó cũng đã từng bị bắt giam ở nhà tù Côn Đảo. Ở vào cái “tuổi xưa nay hiếm”, anh vẫn lấp đầy cảm xúc, thậm chí có lúc được đẩy đến mức cao trào, trước sự ra đi vội vã của người vợ hiền, anh viết về tình yêu đằm thắm nghĩa vợ tình chồng mấy mươi năm (Nói với hiền thê, Cuối năm tự nhủ, Em, Yêu thương thành chiếc lá, Cảm hóa), viết khi chăm sóc vợ ốm ở nhà và ở bệnh viện (Em ơi, anh tưởng tượng, Khất nguyện, Chừ tra lão với nụ cười nhà thương), thậm chí Viết khi em hôn mê, giận lẫy khi chị Bỏ người ta mà đi hoặc miêu tả về ngôi mộ chị mà anh gọi là Ngôi nhà mới của em…Chỉ đọc tiêu đề các bài thơ cũng có thể thấy rõ thơ Võ Quê là thơ tự sự. Anh hiền lành, chân chất đến mức thật thà kể lại các sự kiện đã gây cho mình xúc động, đã gõ vào tâm hồn mình những âm thanh bật lên thành tiếng nói. Khi thần chết đưa bàn tay lạnh lẽo lôi chị ra đi, nhà thơ thất thanh gọi tên vợ trong nỗi tuyệt vọng tột cùng và đành cam chịu chấp nhận sự đẩy đưa của bàn tay định mệnh:

Tiểu Kiều! Tiểu Kiều! Tiểu Kiều!

                          Anh gọi em với thương yêu tột cùng

                              Biết đời là chuyện sắc không

                          Mà sao đau đớn nát lòng Kiều ơi!

                          (…)

                              Hiểu đời huyễn mộng vô thường

                          Mà sao anh lại đoạn trường Kiều ơi!

                                                                (Viết khi em hôn mê)

Khi chị đã ra đi vào cõi vĩnh hằng, nhà thơ sống trong cảnh cô đơn trống vắng. Dường như thời gian cũng dài ra và chậm lại, anh vẫn nhớ thương mỗi sáng mỗi chiều, lại tiếp tục Viết trong ngày giỗ đầu hiền thê, Viết trong ngày 20 tháng 10, thậm chí Đi trên đường Huế nhớ vợ hiền, nhớ Mỗi sáng, nhớ Ban mai và cả Những ban chiều… Nỗi nhớ thương thấm đẫm tràn sang lấp đầy những trang văn xuôi đầy ắp kỷ niệm về một thời quá vãng Noel ngày ấy, giăng kín cả giấc mơ Em về trong giấc mơ anh,…Hãy lắng đọng với nỗi lòng nhà thơ, khi anh diễn ngôn bằng văn xuôi về mối tình đằm thắm giữa hai người làm cho ta cảm động: “Những năm tháng qua em và tôi mặn nồng một tình yêu da diết. Tình không bỏng cháy nhưng lắng sâu trong từng đường chỉ thời gian trên đôi bàn tay em, trên đỉnh trán tôi. Tình không nhiệt cuồng dữ dội nhưng vô cùng đằm đẹp êm đềm cùng cỏ hoa xứ Huế. Lắng đọng và chan chứa. Tôi và em đã đi qua biết bao nhiêu cung đường quê nhà yêu dấu. Em và tôi đã nhiều lần cùng dìu nhau vượt lên vô vàn khó khăn sinh lão bệnh tử của kiếp người nơi trần thế/ Và rồi… ban khuya em và tôi…/. Thoát khỏi vòng hệ lụy dương gian, ban khuya ấy, em làm nên một cuộc chia ly tức tưởi. Nước mắt tôi khô trong từng khúc đoạn trường. Nỗi bất hạnh thành sóng lòng cuồng dâng cuốn tan mất trong tôi nguồn bình an hằng có” (Ngôi nhà mới của em, tr.12-13). Nhà văn tài danh Lỗ Tấn đã từng nói rằng, người ta chỉ thật sự chết khi không còn sống trong lòng những người đang sống. Với Võ Quê, có lẽ điều này hoàn toàn đúng. Sự sống của chị không còn hiện hữu ở tấm thân vật chất, mà chỉ còn có ý nghĩa tinh thần, biểu hiện qua nỗi đau đớn khôn nguôi, nỗi nhớ nhung tuyệt vọng, nỗi hoài cảm triền miên, và với anh, dường như chị vẫn đồng hành trong cuộc sống mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, trong mỗi sinh hoạt hằng ngày: “Ban đêm. Gió phóng khoáng trong lành giục anh xuống độc hành trên những con đường vắng Conic. Sao anh không có cảm giác độc hành? Bởi em đang sóng bước bên anh. Bởi em đã viết trong Người thân ơi, bạn bè ơi! rằng: nhớ chi lạ mỗi buổi sáng, buổi tối cùng anh Quê đi bộ tập thể dục trong một không gian thoáng đãng, nhẹ nhàng ở khuôn viên Conic. Anh Quê thường chỉ mấy lô đất trống của người ta có ghi số điện thoại rao bán đất rồi nói đùa y như thật: “Vợ chồng mình bán xong mấy lô đất này rồi ra Huế tha hồ mà ăn tiêu thỏa mái” hoặc là “Mấy người giúp việc nhà mình không chịu làm cỏ chi hết để đất um tùm làm sao mà bán được đây?” (Conic, ngày và đêm, tr.20-21).

Nhớ chị, anh nhớ đến những sinh hoạt trong cuộc sống gia đình, sự chăm sóc từng bữa ăn giấc ngủ, nên trong văn xuôi của Võ Quê còn chứa đựng cả những tri thức về văn hóa ẩm thực của xứ Huế như món xào nấm tràm tôm thịt (Nấm tràm) món ăn ưa thích của cả nhà, hoặc món xôi đậu xanh anh nấu đưa vào bệnh viện cho chị, mà anh gọi là Xôi chuông, vì anh thức dậy nấu vào giờ chuông nhà thờ đổ mỗi sáng…Vì vậy, không chỉ trong thơ mà cả trong văn xuôi của Võ Quê, đều có yếu tố tự sự, sắp xếp các bài viết đặt cạnh nhau theo một trật tự nhất định, sẽ tạo nên một bức tranh liên hoàn về cuộc sống gia đình tràn đầy hạnh phúc một thuở đã trôi xa.

Tác phẩm đầu tay của Võ Quê là tập kịch thơ Giọt máu ta một biển hòa bình (Tổng hội sinh viên Huế xuất bản 1970), đến nay anh đã có 9 tập thơ, 4 tập văn xuôi, 3 tập lời ca Huế và đây là tập sách thứ 18 của anh viết dành riêng cho người vợ đã khuất. Vì vậy, âm hưởng chung của tập sách này, ít nhiều có tính chất tự truyện. Là chuyện riêng của hai người, của một gia đình, nhưng nó có sức khái quát về một bức tranh đời sống xã hội sinh động và có ý nghĩa văn hóa nhân văn, nhất là trong việc giáo dục nếp sống gia đình. Sự gắn bó các thành viên trong một gia đình văn hóa Việt, là mô hình văn hóa truyền thống khó phôi pha, cần phải được lưu giữ âm ấm tro than nồng nàn trong tâm tưởng mỗi người.

                                                                                                    P.P.P